vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Tú Ng được ly hôn anh Hà Mạnh L. [2]. Về con chung: Giao con chung Hà Gia B, sinh ngày 10/5/2023 cho chị Trịnh Thị Tú Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi. Anh Hà Mạnh L có quyền đi lại chăm sóc con không bên nào được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRanh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 20 - 02 - 2025
V/v. Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Đàn và Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST – HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trịnh Thị Tú Ng, sinh năm 1997; Địa chỉ: Chợ Quán R, thôn Hội Lộc, xã Cát Hưng, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Hà Mạnh L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố Hòa Th (nay là TDP Hòa A), thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người xin ly hôn, nguyên đơn chị Trịnh Thị Tú Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Tú Ng và anh Hà Mạnh L đã đăng ký hết hôn với nhau ngày 17/02/2023 tại Ủy ban nhân dân phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau. Nay, chị Ng thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn với anh Hà Mạnh L.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Chị Trịnh Thị Tú Ng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Hà Gia B, sinh ngày 10/5/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 23/12/2024, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 07/02/2025, bị đơn trình bày: Thống nhất về toàn bộ nội dung lời khai của nguyên đơn về quá trình kết hôn, chung sống vợ chồng mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nay tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn chị Trịnh Thị Tú Ng.

Về con chung, bị đơn thống nhất như nguyện vọng của chị Ng và cũng có nguyện vọng giao con chung Hà Gia B, sinh ngày 10/5/2023 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành 18 tuổi và việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Do vụ án có các đương sự đề nghị giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ngay sau khi nộp đơn khởi kiện, nên Tòa án đã công khai chứng cứ cho bị đơn và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị Tú Ng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ấn định thời gian công khai chứng cứ, hòa giải nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ đối với bị đơn. Nguyên đơn đề nghị không hòa giải nên thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, xét việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên không phải hoãn phiên tòa.

. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng đã sống chung được một thời gian nhưng do tính tình không thể hòa hợp nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn và bị đơn đồng ý.

Sau khi thụ lý, Tòa án đã mở phiên công khai chứng cứ và phiên hòa giải để các đương sự tiến hành hòa giải nhưng nguyên đơn đề nghị không hòa giải, các đương sự đều có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử vụ án.

Hội đồng xét xử nhận thấy, việc một bên đương sự không mong muốn hòa giải cho thấy tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các đương sự không tham gia hòa giải để ghi nhận việc thuận tình ly hôn nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân xử ly hôn cho chị Trịnh Thị Tú Ng được ly hôn với anh Hà Mạnh L.

. Về con chung:

Các đương sự thống nhất giao con chung Hà Gia B, sinh ngày 10/5/2023 cho chị Trịnh Thị Tú Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, nên HĐXX cần chấp nhận.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng, nuôi con chung nên HĐXX miễn xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 70, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Tú Ng được ly hôn anh Hà Mạnh L.

[2]. Về con chung: Giao con chung Hà Gia B, sinh ngày 10/5/2023 cho chị Trịnh Thị Tú Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi. Anh Hà Mạnh L có quyền đi lại chăm sóc con không bên nào được cản trở.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi nếu người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3]. Về án phí: Chị Trịnh Thị Tú Ng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0006694 ngày 23/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tiền án phí chị Trịnh Thị Tú Ng đã nộp đủ.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ