- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nết - Thắng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Đông
- Bà Trương Thị Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bá thước, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: - Chị Trương Thị N; Sinh năm: 2001 (Có mặt).
2. Bị đơn:
- Anh Bùi Văn T; Sinh năm: 1998 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Rầm Tám, xã Điền Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2024 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị N và anh Bùi Văn T chung sống với nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đã thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã Điền Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 25/3/2019. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, hiện tại chị N, anh T người nào biết người đó không còn liên lạc, quan tâm tới nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Bùi Văn T.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là cháu Bùi Thị TL, sinh ngày 06/6/2019, hiện tại cháu Linh đang sống cùng chị N nên khi ly hôn chị N đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu TL; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom con.
- Về tài sản chung và công nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập và các văn bản, quyết định tố tụng cho anh Bùi Văn T nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại Tòa án để tham gia các phiên tòa.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trương Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Bá Thước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về yêu cầu của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trương Thị N khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Bùi Văn T. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Văn T có nơi cư trú tại thôn Rầm Tám, xã Điền Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh T.
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Nguyên đơn chị Trương Thị N và bị đơn anh Bùi Văn T chung sống với nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2019 tại UBND xã Điền Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, mâu thuẫn căng thẳng nhất là từ thời điểm năm 2021, chị N và anh T đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm tới nhau. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp, chứng tỏ anh T cũng không tha thiết hòa giải để đoàn tụ gia đình. Nay chị N xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn nên chị N tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Quá trình thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: Anh T và chị N trong thời gian sinh sống tại địa phương vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh T là có căn cứ.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N và anh T có một con chung là cháu Bùi Thị TL, sinh ngày 06/6/2019. Khi ly hôn chị N đề nghị giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu TL; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án đã triệu tập anh T để lấy ý kiến về việc tranh chấp nuôi con cũng như tham gia các phiên hòa giải, tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh T không có mặt để làm việc và cũng không có văn bản ý kiến trình bày gửi cho Tòa án. Xét thấy chị N có đủ điều kiện nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con đảm bảo tốt về mọi mặt và hiện tại cháu TL đang ở với chị N; để không xáo trộn việc sinh hoạt và học tập của cháu TL nên khi ly hôn giao cháu TL cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với yêu cầu của chị N và phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về tài sản và công nợ: Nguyên đơn chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Chị N và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị N.
Chị Trương Thị N được ly hôn anh Bùi Văn T.
2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh T có một con chung là Bùi Thị TL, sinh ngày 06/6/2019. Khi ly hôn giao cháu TL cho chị N được trược tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại thăm nom con không ai được ngăn cấm, cản trở.
3. Về tài sản và công nợ: Nguyên đơn chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trương Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0006024 ngày 24/10/2024. Số tiền này được trừ vào số tiền án phí mà chị N phải nộp, theo đó chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Bùi Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bá Thước; - Chi cục THADS huyện Bá Thước; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã Điền Trung; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Long |