vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Ngọc A và anh La Văn M.

Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của chị Lê Ngọc A và anh La Văn M là giao cháu La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016 (theo nguyện vọng của cháu H và cháu V) cho anh Minh chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Ngọc A có quyền thăm nom con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ NGỌC A - LA VĂN M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Ngọc A và anh La Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23-01-2025.
V/v “Ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Trần Thị Mộng Lành.

2- Ông Hà Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền -Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc A, sinh ngày 01/01/1985 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh La Văn M, sinh ngày 16/3/1980 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T1, xã Đ1, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Ngọc A trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc A và anh La Văn M kết hôn với nhau năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương, nhưng không có đăng ký kết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống lúc đầu rất là hạnh phúc, nhưng thời gian sau này lại thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh La Văn M.

Về con chung: Có 02 người con tên La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016, hiện nay đang sống với anh M. Khi ly hôn chị giao 02 người con lại cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản hoà giải ngày 08/01/2025 bị đơn anh La Văn M trình bày như sau: Anh thừa nhận theo lời trình bày của chị Lê Ngọc A về hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung nêu trên là hoàn toàn đúng, theo yêu cầu của chị Ngọc A thì anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Lê Ngọc A.

Về con chung: Anh đồng ý nuôi 02 người con tên La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016 và không yêu cầu chị Ngọc A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Anh thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị Lê Ngọc A trình bày, yêu cầu như sau: Chị Ngọc A vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên. Ngoài ra không có kiến kiến, yêu cầu gì thêm.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Ngọc A và anh La Văn M.

Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của chị Lê Ngọc A và anh La Văn M là giao cháu La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016 (theo nguyện vọng của cháu H và cháu V) cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Ngọc A và anh La Văn M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh La Văn M được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, anh M đã có lời trình bày rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt đối với anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc A và anh La Văn M kết hôn với nhau năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương, nhưng không có đăng ký kết theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của chị Ngọc A và anh M là không hợp pháp.

Tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Ngọc A và anh La Văn M.

Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của chị Lê Ngọc A và anh La Văn M là giao cháu La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016 (theo nguyện vọng của cháu H và cháu V) cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Ngọc A và anh La Văn M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Ngọc A phải chịu tiền án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Như vậy, chị Ngọc A đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 , Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Ngọc A và anh La Văn M.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của chị Lê Ngọc A và anh La Văn M là giao cháu La Gia H, sinh ngày 27/3/2009 và La Tường V, sinh ngày 08/9/2016 (theo nguyện vọng của cháu H và cháu V) cho anh Minh chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Ngọc A có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị Ngọc A và anh Minh có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Ngọc A và anh La Văn M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Ngọc A phải chịu tiền án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số: 0003489 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy, chị Ngọc A đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị Ngọc A có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025). Đối với anh M vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ