vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hoàng Đình T1.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000816 ngày 10/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, chị Trần Thị T đã … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị T xin ly hôn anh Hoàng Đình T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hoàng Đình T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN CHẤN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-01-2025
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN,TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đỗ Văn Bách;

- Ông Vàng A Lù.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số: 05/2025/TB-TA ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Đình T1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trần Thị T trong đơn khởi kiện và B tự khai khai trình bày: Chị và anh Hoàng Đình T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2020 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã C, huyện V một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T1 cờ bạc, ngoại tình không chịu khó làm ăn. Tôi đã khuyên giải anh T1 nhiều lần nhưng không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Trần Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hoàng Đình T1.

- Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoàng Đình T1 không có mặt để giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 19/11/2024 ông Hoàng Trung T2 là bố đẻ của anh Hoàng Đình T1 cho biết: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện V ngày 02/11/2020. Sau khi kết hôn chị T và anh T1 chung sống cùng vợ chồng ông T2 một thời gian ngắn thì chị T đi làm ở Bắc Ninh thi thoảng có về nhà vài hôm, chủ yếu là Tết mới về, anh T1 cũng đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà. Thời gian gần đây ông T2 có nghe anh T1 nói là chị T và anh T1 có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh T1 có nói là là anh và chị T đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Do anh T1 bận công việc nên không đến Tòa án để làm việc được , anh T1 có nói lại với ông T2 là chị T xin ly hôn anh đồng ý và để chị T tự giải quyết đơn phương. Anh T3 và chị T không có con chung. Anh T3 đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án gửi và anh T3 nhờ ông T2 nhận hộ các văn bản của Tòa án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Hoàng Đình T1.

+ Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 không có con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T phải chịu án phí. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Đình T1 có đăng ký hộ khẩu tại thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái, vụ án do Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Hoàng Đình T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Trần Thị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã C. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hoàng Đình T1 cờ bạc, ngoại tình, chị Trần Thị T đã nhiều lần tha thứ nhưng anh Hoàng Đình T1 không thay đổi. Mâu thuẫn được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị Trần Thị T và chị Hoàng Đình T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hoàng Đình T1.

2. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000816 ngày 10/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Đình T1 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự,người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ