- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Dương Văn T - Phan Văn M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn T đối với bị đơn anh Phan Văn M.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/DS-ST Ngày 20 tháng 03 năm 2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong
2. Ông Danh On
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt – Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 287/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1970
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Anh Phan Văn M, sinh năm 1978
Địa chỉ: Ấp N, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai nguyên đơn ông Dương Văn T trình bày: Trước đây vào ngày 09/02/2022 anh Phan Văn M có đến nhà ông T ở ấp B, xã H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thu mua lúa của ông T với số lượng là 225 bao với tổng trọng lượng là 10.992 kg, thành tiền là 64.846.900 đồng. Sau khi cân lúa xong thì anh M có viết biên nhận giao cho ông T giữ và cam kết 04 ngày sau (nhằm ngày 13/02/2022) anh M sẽ thanh toán toàn bộ số tiền mua lúa của ông T nêu trên. Tuy nhiên đến ngày hẹn anh M không thanh toán tiền mua lúa cho ông T, ông T nhiều lần liên lạc thì anh M cứ hứa hẹn và sau đó tắt điện thoại ông T không liên lạc được. Vào đầu tháng 04/2024 (ông T không nhớ rõ ngày) ông T có gửi đơn tố giác tội phạm đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh M về việc thu mua lúa của ông T nhưng sau đó không thanh toán tiền cho ông và cắt liên lạc với ông đến Công an tỉnh Bạc Liêu, sau đó Công an tỉnh Bạc Liêu có chuyển đơn tố giác tội phạm của ông về cho Công an huyện H thụ lý giải quyết. Đến ngày 19/09/2024 thì cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H có ra công văn số 224/CV-CQCSĐT trả lời kết quả giải quyết đơn đối với ông T. Theo đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H xét thấy hành vi của anh M không có dấu hiệu của tội phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên công an huyện H không tiếp nhận, giải quyết tố giác tội phạm của ông.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Phan Văn M phải trả cho ông T tổng số tiền từ việc anh M mua nợ lúa của ông T là 64.846.900 đồng. Ngoài ra ông T không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Phan Văn M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có xuống địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cũng như làm việc với anh Phan Văn M tuy nhiên anh M không có mặt tại nhà. Qua xác minh chính quyền địa phương thì được biết anh Phan Văn M vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp N, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng anh M rất ít khi ở nhà, có khi 10 ngày hoặc nửa tháng anh M mới về nhà một lần, tuy nhiên chính quyền địa phương cũng không biết chính xác thời gian anh M trở về nhà. Do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh M đối với yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T. Đồng thời Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay nguyên đơn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn T. Buộc anh Phan Văn M có trách nhiệm trả cho ông Dương Văn T tổng số tiền là 64.846.900 đồng. Ngoài ra anh M còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn ông Dương Văn T khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Phan Văn M phải trả cho ông T tổng số tiền từ việc anh M mua nợ lúa của ông T là 64.846.900 đồng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng mua bán. Đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã Q, huyện H nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Dương Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Phan Văn M căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự là phù hợp.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T yêu cầu anh Phan Văn M phải trả cho ông T tổng số tiền từ việc anh M mua nợ lúa của ông T là 64.846.900 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình ông Dương Văn T có cung cấp cho Tòa án “Biên nhận” thể hiện anh Phan Văn M có thu mua lúa của ông T với số lượng 10.992 kg quy đổi ra thành tiền là 64.846.900 đồng có chữ ký xác nhận của anh Phan Văn M (Bút lục 01).
Qua xem xét nội dung được ghi trong “Biên nhận” nêu trên đối chiếu với lời trình bày của ông T và Công văn số 224/CV-CQCSĐT ngày 19/9/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H về việc trả lời kết quả giải quyết đơn tố giác của ông T có cơ sở để nhận định anh Phan Văn M có mua nợ của ông T số lượng lúa là 10.992 kg quy đổi thành tiền là 64.846.900 đồng là có xảy ra trên thực tế và đến nay anh M chưa thanh toán được số tiền này cho ông T.
Do đó, việc ông Dương Văn T khởi kiện yêu cầu anh Phan Văn M phải trả cho ông T tổng số tiền nợ 64.846.900 đồng nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: Anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho ông Dương Văn T là 3.242.000 đồng (64.846.900 đồng x 5% = 3.242.345 đồng, lấy tròn 3.242.000 đồng).
Ông Dương Văn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 357, khoản 3 Điều 440, 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ vào các Điều 2; 6; 7; 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn T đối với bị đơn anh Phan Văn M.
Buộc anh Phan Văn M có trách nhiệm trả cho ông Dương Văn T tổng số tiền là 64.846.900 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí: Buộc anh Phan Văn M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 3.242.000 đồng.
Ông Dương Văn T đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 1.621.000 đồng theo biên lai thu số 0007906 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (1b); - VKSND huyện (2b); - CC.THADS huyện (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa (2b). | Phan Tú Anh |