- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty H về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản” với ông TT.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2025/DS-ST Ngày: 25-3-2025 V/v: “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Thanh Dung.
2. Ông Ngô Ánh Khôi.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hoanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Việt Hà – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Núi Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2024/TLST-DS ngày 14/10/2024 về “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST - DS ngày 13 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-DS ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty H, địa chỉ trụ sở: Khu KTM, xã T, huyện N, tỉnh Q. Đại diện theo pháp luật: Ông LHQ, chức danh: Tổng Giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà TTTTH, sinh năm: 1998, địa chỉ liên hệ: Công ty H, xã T, huyện N, tỉnh Q. Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông TT, sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh TT. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn bà TTTTH trình bày: Công ty H và ông TT có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm số 47/HĐMB-MT-2019 ngày 01/4/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H đã cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng hàng hoá như hai bên thoả thuận. Ngày 31/03/2020 hai bên có tiến hành đối chiếu công nợ, xác nhận ông TT nợ Công ty H số tiền 110.045.400 đồng. Tuy nhiên, từ đó đến nay, ông TT không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn mặc dù công ty đã nhiều lần yêu cầu, nhắc nhở. Tại giấy nhận nợ và cam kết thanh toán ngày 26/7/2023, ông TT cam kết 30% vào ngày 15/9/2023, số còn lại thanh toán cuối năm 2023, nhưng đến nay ông TT vẫn không thực hiện cam kết của mình. Do vậy Công ty H làm đơn khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông TT phải trả cho công ty tiền hàng còn nợ là 110.045.400 đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 01/01/2024 đến thời điểm khởi kiện là 5.058.786 đồng với lãi suất 10%/ năm và tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc. Tại phiên toà, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc 110.045.400 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 đến ngày 25/3/2025, số tiền 13.546.588 đồng.
Bị đơn ông TT trình bày tại hồ sơ: Ông TT và Công ty H có giao kết hợp đồng mua bán số 47/HĐMB-MT-2019 ngày 01/4/2019. Ông TT thống nhất có nợ Công ty H nợ gốc 110.045.400 đồng và lãi tạm tính từ ngày 01/1/2024 đến ngày 17/6/2024 là 5.508.786 đồng (lãi 10%/ năm). Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn, ông TT đề nghị Công ty H cho ông gia hạn thời hạn trả nợ, ông TT bắt đầu thanh toán vào ngày 01/4/2025, mỗi tháng 20.000.000 đồng cho đến khi dứt điểm công nợ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: căn cứ Điều 357, Điều 430, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Buộc ông TT phải thanh toán cho nguyên đơn nợ gốc 110.045.400 đồng và lãi 10%/ năm trên số nợ gốc từ ngày 01/01/2024 đến ngày 25/3/2025. Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn TT phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm số 47/HĐMB-MT-2019 ngày 01/4/2019 được giao kết giữa Công ty H – bên A và ông TT- bên B, xác định bên A cung cấp cho bên B thức ăn nuôi tôm tiêu thụ tại khu vực xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; các bên chọn Toà án nhân dân huyện Núi Thành có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện và các chứng cứ theo quy định, khởi kiện ông TT yêu cầu trả nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm và lãi, ông TT không có đăng ký kinh doanh; về bản chất đây là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự 2015, do vậy xác định đây là tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
[2] Về tố tụng: Tại phiên toà ông TT vắng mặt, tuy nhiên ông TT có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt được Toà án chấp nhận, nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Các đương sự thừa nhận ông TT và Công ty H có giao kết hợp đồng mua bán số 47/HĐMB-MT-2019 ngày 01/4/2019. Ông TT thống nhất có nợ Công ty H nợ gốc 110.045.400 đồng và lãi tạm tính từ ngày 01/1/2024 đến ngày 17/6/2024 là 5.508.786 đồng (lãi 10%/ năm). Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.
Hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm giữa ông TT và Công ty Thức ăn Hoa Chen được giao kết theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng ông TT thừa nhận có phát sinh công nợ với Công ty H. Việc ông TT không trả nợ cho nguyên đơn là đã vi phạm thoả thuận của hai bên tại Điều 4 của hợp đồng mua bán số 47/HĐMB-MT-2019 ngày 01/4/2019 cũng như quy định tại Điều 440 bộ luật dân sự 2015. Do vậy, việc Công ty H yêu cầu ông TT thanh toán số nợ gốc là 110.045.400 đồng là có căn cứ.
Xét yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 01/01/2024 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi suất 10%/năm, tương đương số tiền 13.546.588 đồng thấy rằng: Tại giấy nhận nợ và cam kết thanh toán ghi ngày 26/7/2023, ông TT thừa nhận có nợ và cam kết thanh toán số nợ còn lại vào cuối năm 2023. Công ty H không có ý kiến gì đối với cam kết này. Như vậy, sau khi kết thúc năm 2023 ông TT không trả nợ như đã cam kết thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả 110.045.400 đồng, tính từ ngày 01/01/2024 đến thời điểm xét xử là ngày 25/3/2025 (01 năm 02 tháng 24 ngày ), lãi suất 10%/ năm tương ứng với số tiền lãi 13.546.588 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 440, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp.
Ông TT thừa nhận nợ nhưng yêu cầu nguyên đơn xem xét cho ông được trả dần mỗi tháng 20.000.000 đồng kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi hết nợ, tuy nhiên đại diện nguyên đơn không thống nhất, yêu cầu ông TT trả một lần nên không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông TT.
Như vậy, căn cứ vào các nhận định trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn về việc yêu cầu ông TT trả nợ gốc 110.045.400 đồng và lãi chậm trả tính từ ngày 01/01/2024 đến ngày 25/3/2025, lãi suất 10%/ năm, tương ứng với số tiền lãi 13.572.266 đồng, tổng cộng số tiền cần buộc ông TT phải trả cho nguyên đơn 123.617.666 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông TT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ngày 30/12/2016.
Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty H về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản” với ông TT.
Buộc ông TT có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty H số nợ gốc 110.045.400 đồng và lãi chậm thanh toán 13.572.266 đồng. Tổng cộng số tiền ông TT phải thanh toán cho Công ty H là 123.617.666 đồng.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm ông TT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 6.180.000 đồng (sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Hoàn lại cho Công ty H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.877.000 đồng (hai triệu tám trăm bảy mươi bảy ngàn đồng) theo biên lai thu 0006805 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Núi Thành; - THA huyện Núi Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Xuân Thuỳ |