vanban.org

Bản án 06/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoài P đối với anh Lê Minh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc anh Lê Minh P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Hoài P số tiền 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng. Ghi nhận anh P không yêu cầu tính tiền lãi. Kể từ ngày tiếp theo anh Nguyễn Hoài P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Minh P1 không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng anh P1 phải tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản P1-P2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoài P đối với anh Lê Minh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS–ST
Ngày: 18 - 02 -2025
V/v tranh chấp hợp
đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Nghĩa;

2. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST–DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST–DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1992, vắng mặt;

Cư trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Lê Minh P1, sinh năm 1988, vắng mặt;

Cư trú tại: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Nguyễn Hoài P trình bày:

Do quen biết nhau nên vào ngày 18/01/2024 anh có cho anh Lê Minh P1 vay số tiền 28.000.000 đồng, có làm giấy viết tay “mượn tiền”, anh P1 hẹn trong thời hạn 30 ngày (từ ngày 18/01/2024 đến 19/02/2024) sẽ trả lại 20.0000.000 đồng, còn lại số tiền 8.000.000 đồng sẽ trả dần vào các tháng tiếp theo tính từ tháng 3/2024. Từ ngày vay đến nay anh P1 không trả cho anh khoản tiền gốc và lãi nào.

Nay anh yêu cầu anh Lê Minh P1 hoàn trả số tiền nợ vay gốc 28.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lê Minh P1 nhưng anh P1 cố tình vắng mặt nên không thể tiến hành làm việc lấy lời khai, hòa giải.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn – anh Nguyễn Hoài P: có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn – anh Lê Minh P1: vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: qua công tác kiểm sát xét thấy từ khi thụ lý vụ án, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, chuyển hồ sơ vụ án, quá trình thu thập chứng cứ, lấy lời khai hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, các Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các bên đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hoài P, buộc anh Lê Minh P1 phải trả cho anh Nguyễn Hoài P số tiền nợ vay gốc 28.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Về án phí: anh P1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về tố tụng: anh Lê Minh P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh P1.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoài P yêu cầu anh Lê Minh P1 hoàn trả số tiền nợ vay gốc 28.000.000 đồng, xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Nguyễn Hoài P cung cấp giấy nợ thể hiện anh P1 có ký tên xác nhận việc vay tiền của anh P vào ngày 18/01/2024 số tiền 28.000.000 đồng, có thỏa thuận thời hạn trả nợ, không thỏa thuận lãi suất. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ thể hiện sau khi vay tiền anh P1 vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng không đến Tòa án làm việc. Do đó, việc anh P1 cố tình vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải chịu mọi hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn theo quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự.

Về tiền nợ gốc: căn cứ vào “Giấy tay mượn tiền” lập ngày 18/01/2024 giữa anh Lê Minh P1 với anh Nguyễn Hoài P là hợp đồng vay có thật, trong giấy nợ có thể hiện nội dung “...Tôi tên Lê Minh Phát S năm 21/07/1988. Nơi thường trú: Khu phố E, thị trấn T, tân B, Tây Ninh …có mượn số tiền 28.000.000 (Hai mươi tám triệu đồng chẵn)…”. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P về việc yêu cầu anh P1 có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay gốc 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng, anh P không yêu cầu tính tiền lãi.

Do đó đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên là có căn cứ nên đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hoài P buộc bị đơn anh Lê Minh P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho anh P số tiền nợ vay gốc 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng. Ghi nhận anh P không yêu cầu tính tiền lãi.

Về án phí:

Theo quy tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Anh Lê Minh P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 28.000.000 đồng x 5 % = 1.400.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoài P đối với anh Lê Minh P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc anh Lê Minh P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Hoài P số tiền 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng. Ghi nhận anh P không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày tiếp theo anh Nguyễn Hoài P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Minh P1 không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng anh P1 phải trả cho anh P số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Lê Minh P1 phải chịu 1.400.000 (một triệu bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Hoài P không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Hoàn trả cho anh Nguyễn Hoài P số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0005173 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ