- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C đối với bị đơn Ông Lâm S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Thái Thị Ngọc M về tranh chấp hợp đồng tín dụng:
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/DS-ST Ngày 28-7-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Đắc Cẩm Tú
Bà Trần Thị Tuyết Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C; Địa chỉ trụ sở: Số 169, phố L, phường H, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C: Ông Thạch Thanh T - PGĐ Phòng giao dịch Ngân hàng C; địa chỉ liên hệ: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo văn bản uỷ quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19-9-2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C và Quyết định ủy quyền số 30/QĐ-NHCS ngày 01-3-2023 của Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Lâm S, sinh ngày 01-01-1964; địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là Ấp G, xã Đ, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thái Thị Ngọc M; Sinh ngày 01-01-1965; Nơi cư trú: Ấp G, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là Ấp G, xã Đ, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 7-02-2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng C có người đại diện hợp pháp trình bày cho rằng ngày 29-11-2018, Ngân hàng C có cho Ông Lâm S vay chương trình Cho vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn số tiền 20.000.000 đồng theo Sổ vay vốn mã KH 6200071886, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ mã KH 6200071886 (Mã món vay số 6600000714153747), Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay; lãi suất 9%/năm; thời hạn vay 36 tháng; phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản và phải trả gốc 06 tháng/lần, lãi trả hàng tháng.
Đến ngày 07-02-2025, Ông Lâm S không thực hiện nghĩa vụ trả gốc và lãi món vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn. Tổng số tiền Ông Lâm S còn nợ là: 23.584.716 đồng. Trong đó:
- Số tiền gốc: 20.000.000 đồng
- Số tiền lãi (tạm tính đến ngày 7-02-2025): 3.584.716 đồng
Do đó, Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Lâm S thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tổng số tiền: 23.584.716 đồng (trong đó, số tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 3.584.716 đồng). Đồng thời, Ông Lâm S phải có nghĩa vụ trả lãi phát sinh kể từ ngày 07-02-2025 cho đến khi ông (bà) trả hoàn tất nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bị đơn Ông Lâm S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Thái Thị Ngọc M thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử tổng số tiền: 23.584.716 đồng (trong đó, số tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 3.584.716 đồng) và tiền lãi phát sinh theo theo hợp đồng đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Ông Lâm S trình bày thừa nhận Ông Lâm S cùng vợ là Bà Thái Thị Ngọc M có vay và nợ Ngân hàng C số tiền vốn 20.000.000 đồng và lãi phát sinh. Do vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M thuộc diện khó khăn của địa phương nên được vay tiền trên để phát triển kinh tế của gia đình, cụ thể là vợ chồng ông nuôi bò. Nhưng hiện vợ chồng ông đã lớn tuổi không có thu nhập nên không thể trả hết số tiền nợ trên cho Ngân hàng C. Nay Ông Lâm S xin trả dần mỗi năm 5.000.000 đồng, ngoài ra Ông Lâm S không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Thái Thị Ngọc M trình bày thừa nhận vợ chồng bà có nợ Ngân hàng C số tiền vốn 20.000.000 đồng và lãi phát sinh như Ông Lâm S trình bày để phát triển kinh tế của gia đình, cụ thể là nuôi bò. Hiện vợ chồng bà đã lớn tuổi không có thu nhập nên không thể trả hết số tiền nợ trên cho Ngân hàng C, nay bà thống nhất như Ông Lâm S trình bày là vợ chồng bà xin trả dần mỗi năm 5.000.000 đồng, ngoài ra bà không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện đối với vợ chồng bị đơn, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả tiền nợ tổng cộng 23.584.716 đồng (trong đó, tiền vốn gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi 3.584.716 đồng); tuyên án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khoản 7 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Bị đơn Ông Lâm S cư trú Ấp G, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là Ấp G, xã Đ, huyện X, tỉnh Sóc Trăng) nên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ (kế thừa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng) thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C thay đổi yêu cầu khởi kiện Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bị đơn Ông Lâm S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Thái Thị Ngọc M thực hiện nghĩa vụ trả số tiền tổng cộng 23.584.716 đồng (trong đó, tiền vốn gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 3.584.716 đồng) và tiền lãi phát sinh theo theo hợp đồng đã ký là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện như trên.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M về nợ vay theo Sổ vay vốn mã KH 6200071886, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ mã KH 6200071886 (Mã món vay số 6600000714153747), Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay. Thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M thừa nhận toàn bộ số tiền nợ (vốn + lãi) phát sinh với Ngân hàng C và cho rằng vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M vay số tiền vốn trên sử dụng phục vụ phát triển kinh tế của gia đình, cụ thể là vợ chồng ông bà nuôi bò; nhưng hiện vợ chồng ông bà đã lớn tuổi không có thu nhập nên không thể trả được hết số tiền nợ trên cho Ngân hàng C, vợ chồng ông bà xin trả dần mỗi năm 5.000.000 đồng, ngoài ra vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M không có yêu cầu hay ý kiến gì khác. Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M phải thanh toán tiền nợ theo hợp đồng đã ký kết số tiền tổng cộng là 23.584.716 đồng (trong đó, tiền vốn gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử là 3.584.716 đồng) và tiền lãi phát sinh theo theo hợp đồng đã ký là phù hợp ý chí thỏa thuận giữa hai bên, đúng quy định tại Điều 117, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ. Việc vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M xin trả dần mỗi năm 5.000.000 đồng nhưng không được người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C đồng ý nên không có cơ sở xem xét.
Từ những phân tích như đã nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngân hàng C không phải chịu án phí; vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M phải chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M là người cao tuổi có yêu cầu miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 11, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 117, Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 4, Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm c khoản 1 Điều 11, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C đối với bị đơn Ông Lâm S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Thái Thị Ngọc M về tranh chấp hợp đồng tín dụng:
1.1 Buộc vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C số tiền nợ tính đến ngày 28-7-2025 tổng cộng là 23.584.716 đồng (trong đó, tiền vốn gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi 3.584.716 đồng) theo Sổ vay vốn mã KH 6200071886, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ mã KH 6200071886 (Mã món vay số 6600000714153747), Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay được ký kết giữa Ngân hàng C và vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M.
1.2 Kể từ ngày 29-7-2025, nếu vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M không thanh toán số tiền nợ trên cho Ngân hàng C thì vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M còn phải trả lãi phát sinh với mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận trong Sổ vay vốn mã KH 6200071886, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ mã KH 6200071886 (Mã món vay số 6600000714153747), Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay trên số tiền vốn vay chưa thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất của khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm Ngân hàng C không phải chịu; vợ chồng Ông Lâm S, Bà Thái Thị Ngọc M được miễn toàn bộ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKSND KV8-CT; - THADS TPCT (KV8); - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Nhẫn |