vanban.org

Bản án 06/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh và hình phạt:

ăn c điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài s n”. Xử phạt bị cáo Lê Quốc T: 02 (hai) năm 04 ( ốn) tháng tù, th i gian ch p hành hình phạt t t nh từ ngày b t thi hành án, nhưng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Tuấn phạm tội trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh và hình phạt:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HSST
Ngày 29/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hoan.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mỵ;

Ông Lê Việt Hà.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trương Văn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Kiểm sátviên.

Vào các ngày 30 tháng 01 và ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/TLST - HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐST - HS, đối với:

Bị cáo: Lê Quốc T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1989, tại: Quảng N - Quảng B; nơi cư trú: Thôn Văn L, x Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn Kh và bà Trương Thị Th; vợ: Không có (đ ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 22/7/2003, bị cáo bị đưa đi trư ng giáo dư ng số 3 ở thành phố Đà N ng theo Quyết định số: 95/QĐ - UB ngày 22/7/2003 của hủ tịch UBND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đến ngày 26/4/2005 thì ch p hành xong;

- Ngày 18/01/2006, bị cáo bị ông an huyện Quảng Ninh, Quảng Bình xử phạt hành ch nh 100.000 đồng, về hành vi đốt pháo trái ph p (đ thi hành);

- Năm 2007, bị cáo bị ông an huyện Quảng Ninh xử phạt hành ch nh 200.000 đồng, về hành vi trộm c p tài sản (đ thi hành);

- Ngày 08/4/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, xử phạt 11 tháng t , về tội trộm c p tài sản;

- Ngày 28/8/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xử phạt 3 năm 6 tháng t , về tội cướp tài sản, t ng hợp hình phạt là 53 tháng t , thi hành án tại trại giam Đồng Sơn đến năm 2012 thì ch p hành xong;

- Ngày 28/01/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xử phạt 09 tháng t , về tội trộm c p tài sản, thi hành án tại trại giam Nghĩa n đến ngày 07/6/2021 thì ch p hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/11/2023 thì được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh và m đi khởi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại:

- Ông Lê Văn L, sinh năm: 1968 và bà Hồ Thị Ng, sinh năm: 1971, cùng trú tại: Khu phố Hữu Ngh, thị tr n Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr (Do ông Lê Văn L đại diện theo ủy quyền, Gi y ủy quyền ngày 20/7/2023, tại UBND thị tr n Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh), v ng mặt.

- Bà Trần Thị Ngh, sinh năm: 1972 và ông Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1971; cùng trú tại: Khu phố hợ H, thị tr n Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr. Do bà Trần Thị Ngh đại diện theo uỷ quyền, Văn bản uỷ quyền ngày 01/12/2023, tại UBND x Vĩnh Lâm, huyện Vĩnh Linh), v ng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phạm Văn H, sinh năm: 1996; trú tại: Thôn T, xã Võ N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, v ng mặt.

- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1982; trú tại: Số 48, đư ng H ng V, thị tr n Quán H, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, v ng mặt.

- Bà Lê Nhật , sinh năm 1979; trú tại: T dân phố Đồng H, Phư ng Đồng H, thành phố Đồng H, tỉnh Quảng B, v ng mặt.

- Ông Hoàng Minh S, sinh năm 1985; trú tại: T dân phố Trung Tr, Thị x Quán H, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, v ng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Lê Hải H, sinh năm 2006; trú tại: Thôn Văn L, x Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 22 gi ngày 29/6/2023, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô hiệu K M O màu tr ng, biển kiểm soát 73V2 - 0364 chạy từ nhà mình tại thôn Văn L, x Lương N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B vào thị tr n Gio L, huyện Gio L, tỉnh Quảng Tr để tìm bạn gái nhưng không gặp nên điều khiển xe chạy ra lại nhà. Khoảng 01 gi 15 phút ngày 30/6/2023, T chạy xe ngang qua nhà ông Lê Văn L ở tại khu phố Hữu Ngh, thị tr n Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr, th y đ n trong nhà sáng nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm c p tài sản. T dừng xe tại b i đ t trống, đi bộ đến nhà ông L rồi tr o lên trụ s t (Trụ mái hiên nhà) lên tầng 2. Th y cửa phòng ngủ của vợ chồng ông L thông với ban công tầng 2 đang mở nên để đôi d p ở khu tiểu cảnh ban công rồi đi chân không vào phòng ngủ l y trộm 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng để trên tủ bên phải giư ng ngủ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung fold 2 màu vàng để trên tủ bên trái giư ng rồi b vào túi quần. T k o ngăn k o của tủ đầu giư ng bên trái l y trộm 01 nh n vàng tr ng đ nh kim cương và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient màu tr ng rồi đi đến chân giư ng l y trộm 01 bật lửa ippo màu vàng để trên bàn, sau đó mở cửa phòng ngủ ra hành lang và đi theo cầu thang xuống tầng 1. Khi đang ở khu vực phòng bếp thì T bị con rể ông L trên tầng 2 đi xuống phát hiện tri hô, T chạy lên cầu thang và chạy ra ban công tầng 2 nhảy xuống b i đ t trống cạnh nhà rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Do nhảy từ tầng 2 xuống làm chân bị thương nên T điều trị tại bệnh viện đa khoa thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ngày 03/7/2023, T nh cháu ruột là Lê Hải H, trú tại thôn Văn L, x Lương N huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, đưa điện thoại di động Samsung fold 2 đến bán cho anh Phạm Văn H, trú tại thôn T, x Võ N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B là chủ của hàng điện thoại Thái H được 6.500.000 đồng. Ngày 04/7/2023, T chuyển vào bệnh viện Trung ương Huế để điều trị. Ngày 07/7/2023, T gửi điện thoại Iphone 11 Promax b ng xe ô tô ra cho bà Hoàng Thị H, trú tại: 48 H ng V, thị tr n Quán H, huyện Quảng N, tỉnh Quảng B, là chủ của hàng điện thoại Thế M để làm tin rồi mượn chị H 9.000.000 đồng. Đến chiều 09/7/2023, T đón xe ô tô ra lại nhà rồi nh anh Lê Hải H chở đến cửa hàng vàng Kim cầm cố chiếc nh n đó cho bà Lê Nhật , trú tại T dân phố Đồng H, phư ng Đồng Ha, thành phố Đồng Hơ, tỉnh Quảng B, được 12.600.000 đồng, rồi đón xe vào lại bệnh viện để tiếp tục điều trị. Ngày 17/7/2023, T được xu t viện và bị ông an huyện Vĩnh Linh triệu tập làm việc. Quá trình điều tra, T đ khai nhận hành vi phạm tội của mình. ơ quan điều tra đ thu hồi được tài sản, riêng điện thoại di động Samsung fold 2 do anh Phạm Văn H đ bán cho một ngư i không quen biết nên không thu hồi được.

Quá trình điều tra còn phát hiện: T còn thực hiện thêm 01 vụ trộm c p vào ngày 22/6/2023 tại nhà bà Trần Thị Ngh ở tại khu phố hợ H, thị tr n Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr, cụ thể như sau:

Vào khoảng 23 gi 30 phút ngày 21/6/2023, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73V2-0364 chạy từ nhà vào thị tr n Gio L, huyện Gio L, tỉnh Quảng Tr để tìm bạn gái. Đến khoảng 01 gi ngày 22/6/2023, T chạy xe ngang qua nhà bà Trần Thị Ngh ở tại khu phố hợ H, thị tr n Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr, th y cửa tầng 2 đang mở nên nảy sinh ý định trộm c p tài sản. T chạy xe lên lề đư ng rồi đi bộ đến trước nhà bà Ngh rồi tr o lên cây xanh ph a trước bên phải nhà (Theo hướng ngoài vào) và tr o lên mái tôn của sân tầng 1 lên tầng 2 vào trong nhà qua lối cửa ch nh (cửa mở). T đi đến phòng ngủ cuối tầng 2 thì th y bà Ngh c ng con gái là Nguyễn Thị Mỹ Tr đang n m ngủ trên giư ng, ở cuối giư ng có 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng và 01 điện thoại Oppo màu xanh nên l y trộm c t vào túi quần rồi đi ra theo lối cũ và điều khiển xe trở về nhà. Đến sáng c ng ngày, T kiểm tra 02 điện thoại di động đ trộm được thì biết là hiệu Iphone 13 Promax màu vàng và hiệu Oppo 15s màu xanh. Vì 02 máy điện thoại có mật khẩu nên T thử b m mật khẩu để mở máy, khi b m được số “2508” thì mở được mật khẩu máy điện thoại Iphone 13 Promax. Sau đó, T xóa dữ liệu trong máy và cài đặt lại mật khẩu máy là “258000", còn máy điện thoại Oppo 15s thì T không mở được mật khẩu. Đến khoảng 09 gi ngày 23/6/2023, T đưa điện thoại Iphone 13 Promax đến cửa hàng điện thoại di dộng Thế M bán cho bà Hoàng Thị H được 14.500.000 đồng. Đến khoảng 09 gi ngày 24/6/2023, T đưa điện thoại di động Oppo 15s đến cửa hàng diện thoai di động Thái H bán cho anh Phạm Văn H được 1.000.000 đồng. Số tiền có được từ việc trộm c p tài sản T đ tiêu xài cá nhân hết.

Bản kết luận định giá tài sản số: 607/KLĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Linh, kết luận: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 30/6/2023, bao gồm: 02 điện thoại di động, 01 đồng hồ đeo tay và 01 bật lửa ippo là 24.500.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số: 793/KLĐGTS ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Linh. kết luận: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 30/6/2023, bao gồm: 01 chiếc nh n có giá trị là 56.320.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số: 892/KLĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Linh, kết luận: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 22/6/2023, bao gồm: 01 điện thoại di động Oppo 15s và 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, có t ng giá trị là:16.500.000 đồng.

Như vậy, t ng giá trị tài sản mà Lê Quốc T đ chiếm đoạt của các bị hại là: 97.320.000 (Ch n mư i y tri u a trăm hai mư i ngàn) đồng.

Quá trình điều tra đã thu giữ và tr lại:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, dung lượng 64GB, màu vàng, máy đ qua sử dụng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient, đ qua sử dụng; 01 cái bật lửa ippo, đ qua sử dụng; 01 chiếc nh n b ng hợp kim của vàng, đồng, k m, niken. ác vật ch ng trên đ được trả lại cho các chủ sở hữu là ông Lê Văn L.

- 01 đôi d p; 01 hộp gi y màu đen, 01 chiếc xe mô tô hiệu K M O màu tr ng, biển kiểm soát: 73V2-0364, xe đ qua sử dụng; 01 hộp gi y màu đen. Các vật ch ng trên chuyển đến kho vật ch ng của hi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh bảo quản ch xử lý theo quy định.

Về dân sự:

Quá trình điều tra, ngày 11/11/2023 và ngày 15/11/2023, bị cáo đ tự nguyện thoả thuận và đ bồi thư ng cho gia đình bà Trần Thị Ngh: 16.500.000 đồng, bồi thư ng cho gia đình ông Lê Văn L: 12.500.000 đồng; hoàn trả cho bà Hoàng Thị H: 7.000.000 đồng; hoàn trả cho bà Lê Nhật 10.000.000đ. Bị hại và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ nhận đủ, nay các bên liên quan không ai yêu cầu gì thêm.

Các bị hại có đơn xin giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại áo trạng số: 37/CT- VKSVL ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Lê Quốc T, về tội: “Trộm cắp tài s n” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Về tội danh và hình phạt:

ăn c điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T, phạm tội: “Trộm cắp tài s n”, xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng t . Th i gian ch p hành hình phạt t t nh từ ngày b t đi thi hành án, được trừ th i gian tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/11/2023.

Về trách nhi m dân sự:

Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan c ng nhau th a thuận và bồi thư ng đầy đủ. Này, bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan không có yêu cầu, ý kiến gì thêm nên đề nghị không x t.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu K M O, BKS 73V2-0364, số máy SD254307736, số máy RRM6CJ5127A000183 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

- Đối với 01 đôi d p, 01 hộp gi y màu đen và 01 hộp gi y màu đen vàng là vật ch ng không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thu giữ một số tài sản và đ trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật, nên đề nghị không x t.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Quốc T: Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như áo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đ truy tố là đúng, đồng tình với quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng x t xử xem x t các tình tiết giảm nh , là lao động ch nh trong gia đình và đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng bố m là ngư i có công với cách mạng hiện đ già yếu, hay đau ốm, bản thân bị cáo khi phạm tội không may cũng bị thương t ch nặng hiện đang phải tiếp tục điều trị, để giảm nh một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt và sớm trở thành ngư i có ch cho gia đình và x hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, ngư i tiến hành tố tụng, ngư i tham gia tố tụng: ơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Linh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngư i bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Ngư i bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng mặc d đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng v ng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên họ đ có l i khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên x t th y việc v ng mặt những ngư i này không gây trở ngại cho việc x t xử. Vì vậy, căn c vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng x t xử quyết định v n tiếp tục tiến hành x t xử vụ án.

. Phân t ch ch ng c buộc tội và g tội đối với bị cáo:

Lê Quốc T là ngư i có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của các chủ sở hữu, vào ngày 30/6/2023, T đ có hành vi chiếm đoạt: 02 điện thoại di động, 01 đồng hồ đeo tay, 01 nh n vàng tr ng đ nh kim cương, 01 bật lửa ippo của vợ chồng Lê Văn L và bà Hồ Thị Ng tại nhà gia đình ông L ở khu phố Hữu Ngh, thị tr n Hồ X với t ng trị giá là: 80.820.000 đồng; trước đó vào ngày 20/6/2023, T có hành vi chiếm đoạt: 02 điện thoại di động của vợi chồng bà Trần Thị Ngh và ông Nguyễn Xuân H tại nhà gia đình bà Ngh ở khu phố hợ H, thị tr n Hồ X, với t ng trị giá là: 16.500.000 đồng. Như vậy, t ng trị giá tài sản mà Tu n đ chiếm đoạt của các chủ sở hữu là: 97.320.000 (Ch n mư i y tri u a trăm hai mư i ngàn) đồng. Hành vi đó của bị cáo đ đủ yếu tố c u thành tội: “Trộm cắp tài s n ”, với tình tiết định khung hình phạt: “Chiếm đoạt tài s n trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Như vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với Lê Quốc T là có cơ sở, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

. X t t nh ch t vụ án, m c độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình, Hội đồng x t xử th y r ng: Hành vi của bị cáo là r t nguy hiểm cho x hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngư i khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây m t trật tự, trị an trên địa bàn, làm cho quần chúng nhân dân không yên tâm trong quản lý tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ả hai lần bị cáo thực hiện hành vi trộm c p đều trên hai triệu đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đ nhiều lần bị xử phạt hành ch nh về các hành vi trái pháp luật và bị xử phạt t về tội trộm c p tài sản, tuy đ được xóa án t ch nhưng x t về mặt nhân thân là x u. Bị cáo nhận th c rõ được việc chiếm đoạt tài sản của ngư i khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì để th a m n nhu cầu cá nhân b ng ch nh s c lao động của ngư i khác nên đ cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng th i răn đe, phòng ngừa chung trong x hội.

Tuy nhiên, cũng cần xem x t: Trong quá trình điều tra, truy tố và x t xử bị cáo đ thành khẩn khai báo, mặc d đang điều trị ch n thương nhưng bị cáo đ t ch cực xoay xở, vay mượn để tự nguyện bồi thư ng đầy đủ thiệt hại cho bà Trần Thị Ngh với số tiền: 16.500.000 đồng, cho ông Lê Văn L với số tiền 12.500.000 đồng; hoàn trả cho bà Hoàng Thị H số tiền 7.000.000 đồng, cho chị Lê Nhật số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo có bố là ông Lê Văn Kh được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng b ng khen và được Chủ tịch nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, có m là bà Trương Thị Th được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình tặng B ng khen vì đ có thành t ch tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ c u nước; các bị hại có đơn xin giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là lao động ch nh trong gia đình, hiện đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng bố, m là ngư i có công, đ già yếu hay đau ốm nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

ăn c vào tình ch t, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đ nhận định trên, Hội đồng x t xử th y r ng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng, được hưởng 02 tình tiết giảm nh quy định tại khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; mặt khác bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi trộm c p thì cũng bị thương t ch nặng ở chân bị nhiểm trùng máu, đóng đinh, hiện đang phải tiếp tục điều trị nên cần ch p nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xem x t giảm nh một phần trách nhiệm hình sự và đưa ra m c hình phạt đối với bị cáo trong khoảng từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù và theo hướng cách ly bị cáo ra kh i đ i sống x hội cũng có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng th i răn đe, phòng ngừa chung trong toàn x hội, qua đó thể hiện ch nh sách nhân đạo, khoan hồng của của Nhà nước đối với ngư i phạm tội.

Về hình phạt b sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì th y r ng, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập n định nên không cần phải áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo có nh Lê Hải H đưa điện thoại Samsung old 2 bán cho anh Phạm Văn H và nh H chở T đên tiệm vàng Kim để T cầm cố chiếc nh n vàng đ nh kim cương cho bà Lê Nhật . Tuy nhiên, H không biết các tài sản đó là do T trộm c p mà có và không hưởng lợi gì. Bà Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Ho là ngư i mua các điện thoại do bị cáo chiếm đoạt, bà Lê Nhật là ngư i cầm cố chiếc nh n nhưng những ngư i này không biết đó là tài sản do trộm c p mà có nên không có căn c xử lý trách nhiệm đối với anh Lê Hải H, anh Phạm Văn Ho, bà Hoàng Thị H và bà Lê Nhật . vì vậy, Hội đồng x t xử không xét trong vụ án này.

. Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 11/11/2023 và ngày 15/11/2023, bị cáo đ tự nguyện th a thuận bồi thư ng thiệt hại cho các bị hại và hoàn trả tiền cho ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể: Bồi thư ng đủ cho bà Trần Thị Ngh số tiền 16.500.000 đồng, cho ông Lê Văn L số tiền 12.500.000 đồng; hoàn trả cho bà Hoàng Thị H số tiền 7.000.000 đồng, cho bà Lê Nhật A số tiền 10.000.000 đồng. Nay, các bị hại và ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đ nhận đủ và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

. Về xử lý vật ch ng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max đ qua sử dụng, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient 3 sao đ qua sử dụng, 01 cái bật lửa ippo đ qua sử dụng, 01 chiếc nh n b ng hợp kim của vàng, đồng, k m, niken. X t th y, việc trả lại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên cơ quan ông an điều tra đ trả lại cho đại diện chủ sở hữu hợp pháp là ph hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nay, bị hại vợ chồng Lê Văn L và bà Hồ Thị Ng đ nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên không xét.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu K M O màu tr ng, biển kiểm soát: 73V2-0364, số máy: D254307736, số khung: RRM6CJ5127A000183. Quá trình điều tra đ xác định xe mô tô này mang tên bà Lý Thị Ngh, địa chỉ: T dân phố 7, phư ng Đồng Ph, thành phố Đồng H, tỉnh Quảng B. Năm 2020, bà Ngh đ tặng xe trên cho bà Nguyễn Thị L, địa chỉ: Thôn B, Vạn N, Quảng N, Quảng B. Đến tháng 4/2023, bà L đ bán xe cho ông Hoàng Minh S. Sau đó, ông S đ bán xe mô tô BKS 73V2-0364 cho bị cáo T. Mặc d khi tặng cho và mua bán xe giữa các bên chưa làm thủ tục sang tên đ i chủ, nhưng quá trình điều tra, các bên đều thừa nhận việc tặng cho và mua bán trên, nên xe mô BKS 73V2-0364 là tài sản hợp pháp của bị cáo T. Bị cáo đ sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Sau khi sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, bị cáo đ bán xe trên lại cho ông Hoàng Minh S, nay ông S cũng không có ý kiến gì, nên không x t.

- Đối với 01 (Một) đôi d p da đ qua sử dụng, 01 hộp gi y màu đen, 01 hộp gi y màu đen - vàng là không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về biện pháp ngăn chặn:

Th i hạn c m đi kh i nơi cư trú đối với bị cáo, theo Lệnh c m đi kh i nơi cư trú số: 23/2023/HSST - L ĐKN T ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, còn dưới 45 ngày. Vì vậy, cần thiết phải ra Lệnh c m đi kh i nơi cư trú mới đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Về tội danh và hình phạt:

ăn c điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc T: 02 (hai) năm 04 ( ốn) tháng tù, th i gian ch p hành hình phạt t t nh từ ngày b t thi hành án, nhưng được trừ đi th i gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023 đến ngày 16/11/2023.

[2]. Về xử lý vật chứng:

ăn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu K M O màu tr ng, biển kiểm soát: 73V2-0364, số máy: D254307736, số khung: RRM6 J5127 000183. Xe đ qua sử dụng.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) đôi d p da k ch thước 26,5cm x 11cm, quai màu nâu, đế màu đen, đ qua sử dụng; 01 (Một) hộp gi y màu đen, k ch thước: 17,5cm x 15cm x 6,5cm, trên hộp có các ký tự “ old 2 5G” và “357407640789992” và “357407640789992”; 01 (Một) hộp gi y màu đen- vàng, k ch thước: 17,5cm x 9,5cm x 2,5cm, trên hộp có các ký tự “iPhone” và “IM I: 354786252233321” và “IM I2: 354786252136417”.

(Các vật chứng trên hi n có tại Chi cục thi hành án dân sự huy n Vĩnh Linh, tỉnh Qu ng Trị theo iên n giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 12 năm 2023)

[3]. Về án phí:

ăn c khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội khóa 14, quy định về m c thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Toà án, xử: Buộc bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo:

ăn c Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết (ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).

Cỡ chữ