vanban.org

Bản án 06/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc Tr 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho UBND xã Nghĩa L – huyện Nghĩa Đàn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HSST
Ngày: 25/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Đức Tùng.

Bà Lê Thị Thúy Hằng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Ngọc Tr - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/08/1988; Nơi cư trú: Làng Yên Ph, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Mai Ngọc B – sinh năm 1962; con bà: Nguyễn Thị T – sinh năm 1966; Vợ: Phạm Thị Ng – sinh năm 1995, con: Có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2023 đến ngày 02/11/2023 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Trương Công Th – Sinh năm 1979. Vắng mặt.

Trú tại: xóm Du Th, xã Đông H, Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị U – sinh năm 1975. Vắng mặt.

Trú tại: xóm Du Th, xã Đông H, Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 24/9/2023, Mai Ngọc Tr đến dự đám cưới tại nhà anh Lê Văn L ở xóm Yên L, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì Tr ra về, khi đi ra đến phía ngoài rạp cưới thì thấy một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, nâu, đen, mang biển kiểm soát 37G1-751.1.. của anh Trương Công Th đang dựng bên mép đường bê tông sát với rạp cưới. Trung quan sát không có ai trông coi, quản lý nên Tr đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên Tr đi đến gần chiếc xe máy thì xe không khóa cổ và Tr đã dắt chiếc xe máy của anh Th về nhà cất giấu trong phòng để đồ của gia đình rồi khóa cửa lại.

Đến ngày 24/10/2023, Tr nhận thấy hành vi trộm cắp xe máy của mình không thể trốn tránh được nên Mai Ngọc Tr đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú và giao nộp chiếc xe máy đã trộm cắp được.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐG ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An kết luận:

Giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, nâu, đen, mang biển kiểm soát 37G1-751.1.., xe đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 24/9/2023 là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số 04/CT-VKSNgĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Mai Ngọc Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51và điều 65 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Mai Ngọc Tr từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm; về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bị hại có lời khai trình bày: Vào đêm ngày 24/9/2023, vợ chồng tôi bị mất một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, nâu, đen, biển kiểm soát: 37G1-751.1.. tại làng Yên L, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, đây là xe của chị Nguyễn Thị H con gái riêng của vợ tôi là chị Lê Thị U giao lại cho vợ chồng tôi quản lý, sử dụng vì chị H đang đi xuất khẩu lao động. Sau khi mất xe thì tôi đã trình báo công an làm việc và Công an đã tìm ra thủ phạm là bị cáo Mai Ngọc Tr lấy trộm xe của tôi. Sau đó Công an đã trả lại chiếc xe đó cho tôi. Nay tôi không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự.

Người liên quan chị U có lời khai trình bày: Vào ngày 24/9/2023 chồng tôi là anh Trương Công Th lấy xe máy của con gái riêng tôi là chị Nguyễn Thị H gửi vợ chồng tôi trông coi, quản lý để đi đám cưới tại xã Nghĩa L, sau đó bị mất xe thì chồng tôi báo công an làm việc và tìm lại được xe, nay đã nhận lại xe bị mất và xe còn nguyên vẹn. Nay tôi không yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định được vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/9/2023 Mai Ngọc Tr đi đám cưới tại nhà anh Lê Văn L ở Làng Yên L, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn ra về thì thấy một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, nâu, đen, mang biển kiểm soát 37G1-751.1.. của anh Trương Công Th đang dựng bên mép đường bê tông sát với rạp cưới nên Tr quan sát không có ai trông coi, quản lý và đã lén lút đến lấy trộm chiếc xe máy mang biển kiểm soát 37G1-751.1.. của anh Th trị giá 15.000.000 đồng về nhà cất giấu trong phòng để đồ của gia đình rồi khóa cửa lại. Đến tối ngày 24/10/2023 Mai Ngọc Tr đã đến cơ quan công an đầu thú. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Mai Ngọc Tr đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

Về Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra bị cáo đã trả lại cho người bị hại để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra bị cáo ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do muốn có tiền chơi bời và tiêu xài cho bản thân nên đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt bị cáo ở mức án treo giao về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và điều 65 - Bộ

luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc Tr 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho UBND xã Nghĩa L – huyện Nghĩa Đàn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Ngọc Tr phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ