- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Nguyễn Thanh Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 18-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Huy Hiếu
Ông Nguyễn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai, trực tuyến xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2023/TLHS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ xăm; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1956 và bà Trương Thị Huệ L, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là Trương Thị H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 25/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 21/5/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 20/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2020;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/8/2023, chuyển tạm giam ngày 09/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Xuân S, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/8/2023, tại khu vực nghĩa địa thuộc khối phố Đ, phường H, thành phố T, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường H, thành phố T tuần tra phát hiện Nguyễn Văn T (sinh năm 2000, trú thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam) đang điều khiển xe gắn máy BKS: 92B1-327.68 chở Nguyễn Thanh Q ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe làm việc. Khi làm việc, Nguyễn Thanh Q tự nguyện lấy từ trong túi quần Jean phía trước bên trái đang mặc 01 gói ni lông không màu bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác. Q khai nhận đây là ma túy đá Q mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa toàn bộ những người liên quan, phương tiện và tang vật về trụ sở Công an phường H để làm việc. Tiến hành thử mẫu phát hiện nhanh chất ma túy và cân khối lượng, xác định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng mà Q giao nộp là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 4,46 gam (bốn phẩy bốn mươi sáu gam). Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 (một) gói ni lông không màu, miệng túi có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng do Nguyễn Thanh Q giao nộp;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE IPHONE X màu trắng, gắn sim số 0852789379;
- 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, BKS: 92B1-327.68;
- Số tiền 500.000 đồng của Nguyễn Thanh Q.
Qua điều tra, xác định được như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 30/8/2023, Nguyễn Thanh Q sử dụng điện thoại di động hiệu APPLE IPHONE X màu trắng, gắn sim số 0852789379 để nhắn tin liên lạc với 01 người thanh niên không rõ lai lịch mua 01 gói ma túy đá với giá 3.000.000đ tại khu vực đường rây xe lửa thuộc xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Nguyễn Thanh Q cất gói ma túy đá vào túi quần Jean đang mặc với mục đích sử dụng cho bản thân. Khi về đến nhà tại Tổ B, thôn H, xã Q, huyện Q, Nguyễn Thanh Q lấy một ít ma túy trong gói ma túy đá vừa mua được và sử dụng một mình tại phòng xăm hình của Q bằng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế. Gói ma ma túy đá còn lại Q tiếp tục cất vào túi quần Jean đang mặc, bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá Q làm vỡ nên đã đem đi vứt (không nhớ vứt ở đâu). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T (có lai lịch nêu trên) đến nhà Q thì Q rủ T đi T chơi, T đồng ý. Nguyễn Thanh Q đưa xe máy hiệu YAMAHA-EXCITER màu đen, biển số 92B1-32768 cho T chở. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Văn T chở Nguyễn Thanh Q đi đến khu vực nghĩa địa thuộc khối phố Đ, phường H, thành phố T thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Nguyễn Thanh Q đã tự nguyện giao nộp gói ma túy đá cất trong túi quần Jean bên trái phía trước Q đang mặc. Nguyễn Văn T không biết việc Nguyễn Thanh Q có cất giấu ma túy trong người.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh Q và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc nêu trên phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Tiến hành thử nước tiểu phát hiện sử dụng chất ma túy, kết quả: Nguyễn Thanh Q và Nguyễn Văn T đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Nguyễn Văn T khai nhận sử dụng ma túy với T1 (không rõ lai lịch) tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 29/8/2023.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh Q tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q phát hiện và thu giữ 01 đồ vật có hình dạng giống khẩu súng, có chiều dài 80cm, được ghép từ nhiều bộ phận bằng vật liệu gỗ và kim loại tại phòng làm việc xăm hình của Q.
Tiến hành kiểm tra, trích xuất dữ liệu điện thoại di động của Nguyễn Thanh Q. Kết quả điện thoại không lên nguồn, không khởi động được nên Cơ quan điều tra không trích xuất được thông tin, dữ liệu liên quan.
Kết quả giám định:
Tại Bản kết luận giám định số 140/KL-KTHS(MT) ngày 05/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 4,538g (bốn phẩy năm trăm ba mươi tám gam).
Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, mục IIC, danh mục II, Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 57/20222/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về danh mục các chất ma túy.
Tại Bản kết luận số 217/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: vật có hình dạng giống khẩu súng gửi giám định là súng tự chế tạo, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; hiện tại khẩu súng sử dụng được và thuộc vũ khí quân dụng.
Cáo trạng số 05/CT-VKSTK-HS ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng vụ án.
Bị cáo không tranh luận, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ chứng minh qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 30/8/2023, Nguyễn Thanh Q liên hệ với 01 người thanh niên không rõ lai lịch liên hệ mua 01 gói ma túy đá với giá 3.000.000 đồng tại khu vực đường ray xe lửa thuộc xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi quần Jean đang mặc rồi đi về nhà lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại tiếp tục cất giữ trong túi quần Jean. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày bị cáo rủ Nguyễn Văn T đến nhà rồi cả hai cùng đi vào T chơi. Khi Nguyễn Văn T chở Q đến khu vực nghĩa địa thuộc khối phố Đ, phường H, thành phố T thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường H kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh Q đồng thời thu giữ khối lượng 4,538g ma túy, loại Methamphetamine cùng các vật chứng có liên quan khác. Bị cáo Nguyễn Thanh Q khai nhận mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, không bán lại kiếm lời hay cung cấp cho người khác sử dụng.
Methamphetamine là chất ma túy số thứ tự 247, nằm trong Danh mục IIC, mục II của Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thanh Q đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" , tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Ma túy là loại độc dược gây nghiện gây tác hại rất lớn, lâu dài đối với sức khỏe con người và xã hội; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do vậy, Nhà nước nghiêm cấm và xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được tác hại của ma túy nhưng với mục đích để có ma túy sử dụng nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh Q thuộc trường hợp nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần có hình phạt thật nghiêm minh tương xứng với hành vi của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có cha ruột tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, là thương binh hạng 4/4, mẹ ruột bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo nhiều lần bị xử phạt tù về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nghiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo đã từng bị xử phạt tù nhiều lần về nhiều loại tội phạm nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo tàng trữ ma túy mục đích sử dụng cho bản thân, không thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
Xử lý vật chứng và vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 140/PC09 là chất cấm; 01 sim số 0852789379 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu APPLE IPHONE X màu trắng mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 500.000 đồng tạm giữ là tài sản của bị cáo Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án về án phí. Đối với 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha BKS 92B1-327.68 mà bị cáo Nguyễn Thanh Q sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản thuộc sở hữu của Phan Xuân S. Tháng 6/2023, S gửi chiếc xe trên cho Nguyễn Thanh Q sửa chữa giúp, ngày 21/6/2023, Phan Xuân S bị khởi tố, bắt tạm giam trong vụ án khác nên Q chưa trả lại xe cho S. Do S không biết việc bị cáo Q sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Phan Xuân S cũng như không xử lý đối với Phan Xuân S là phù hợp. Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” của bị cáo Nguyễn Thanh Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tách vụ án, chuyển hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q xử lý theo thẩm quyền. Nguyễn Văn T là người đi cùng Nguyễn Thanh Q vào thành phố T ngày 30/8/2023, do không có căn cứ xác định T biết việc bị cáo Q cất giấu ma túy trong người nên không có cơ sở xử lý T với vai trò đồng phạm cùng bị cáo Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh Q và Nguyễn Văn T, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức Cảnh cáo.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xác định được nhân thân, lai lịch người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thanh Q nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 31/8/2023).
3. Về vật chứng:
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 140/PC09; 01 sim số 0852789379 của Nguyễn Thanh Q.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu APPLE IPHONE X màu trắng của Nguyễn Thanh Q.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Q số tiền 500.000 đồng, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án về án phí.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 14/12/2023; số tiền 500.000 đồng đang được tạm giữ tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 08/11/2023).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/01/2024) để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh, thành phố; - TAND tỉnh Quảng Nam; - Chi cục THADS thành phố; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Quốc Thiện |