- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày 05 - 02- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tiến;
Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thúy, Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H, sinh ngày 06 tháng 7 năm 19xx tại Hải Phòng; đăng ký thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Điểm và bà Bùi Thị L; có vợ là Phạm Thị Ph, sinh năm 20xx, chưa có con; tiền sự: Tại quyết định số 33/QĐ-XPHC, ngày 15/10/2023, Công an huyện T đã xử phạt Phạm Văn H 1.000.000 (Một triệu) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa được xóa); tiền án: Không có; nhân thân: Bản án số 35/HS-ST, ngày 09/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Phạm Văn H 09 (Chín) năm tù về tội Cướp tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023 chuyển sang tạm giam đến nay, có mặt.
- Người làm chứng: Vũ Xuân L, sinh năm 19xx, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 19/12/2023, Phạm Văn H vào mạng xã hội Facebook thấy tài khoản có tên “Huy” đăng bài bán pháo nên H liên lạc qua ứng dụng Mesenger, đặt mua 03 quả pháo đầu hình cầu và 40 quả pháo rời, với giá 1.000.000 (Một triệu) đồng để đốt trong dịp Tết năm 2024. Đến tối cùng ngày, H lại liên lạc với tại khoản có tên “Huy” qua ứng dụng Mesenger và hẹn giao pháo tại Quốc lộ 10. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, mang biển kiểm soát 15B1-643.02 ra khu vực Quốc lộ 10 gặp một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang, đi xe mô tô không rõ biển kiểm soát, giao số pháo trên và trả số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng. H mang pháo về cất giấu tại góc tường sau nhà. Sáng ngày 23/12/2023, H tiếp tục liên lạc với tài khoản có tên “Huy” qua ứng dụng Mesenger đặt mua 20 bệ pháo hoa nổ, loại mỗi bệ có 36 quả, 10 tràng pháo nổ với giá 24.000.000 (Hai mươi tư triệu) đồng, người này đồng ý bán pháo cho H và hẹn giao pháo tại Quốc lộ 10. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B1-643.02 đi ra khu vực Quốc lộ 10 gặp người đàn ông lạ mặt hôm trước và nhận đủ số pháo đã mua rồi giao tiền. Khi H điều khiển xe mô tô chở số pháo vừa mua về đến khu vực thôn T, xã Đ, huyện T thì bị Công an huyện T kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cơ quan Công an thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave (đã qua sử dụng) mang biển kiểm soát 15B1-643.02; 20 khối hình hộp đúc liền khối đều có vỏ bằng giấy nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài (mẫu số 01); 10 vật dạng tràng pháo, trong đó: 05 tràng pháo đều có chiều dài là 100cm, mỗi tràng pháo gồm 01 đoạn dây cháy chậm, ở giữa là dây nối, hai bên là 54 vật hình trụ dạng pháo cùng có kích thước đường kính 2,3cm, dài 5,6cm; 04 tràng pháo cùng có chiều dài 100cm, mỗi tràng pháo gồm 01 đoạn dây cháy chậm, ở giữa là dây nối, hai bên là 56 vật hình trụ dạng pháo có cùng kích thước đường kính 2,3cm, dài 5,6cm; 01 tràng pháo dài 117cm, gồm 01 đoạn dây cháy chậm, ở giữa là dây nối, hai bên là 58 vật hình trụ dạng pháo có cùng kích thước đường kính 2,3cm, dài 5,6cm (mẫu số 02).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn H ở thôn L, xã Đ, huyện T, Cơ quan Công an thu giữ: 40 vật hình trụ tròn, cuộn bằng giấy có kích thước tương tự nhau cao 06cm, đường kính 2,6cm, được bịt kín hai đầu, một đầu có nối dây cháy chậm (mẫu số 3); 01 vật hình trụ tròn có kích thước 13 x 09cm có nối dây cháy chậm ở phần đầu dài 90cm, 02 vật hình trụ tròn có kích thước 10 x 08cm có nối dây cháy chậm dài 84cm (mẫu số 04).
Tại bản Kết luận giám định số 126/KL-KTHS, ngày 26/12/2023, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: “20 khối hình hộp đúc liền khối đều có vỏ bằng giấy nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài của mẫu số 01 gửi giám định là Pháo hoa nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo trong các khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian; Nguồn gốc do Trung Quốc sản xuất; tổng khối L 30,17kg. 10 tràng của mẫu số 02 gửi giám định là Pháo nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp; tổng khối L 9,575kg. 40 vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ được bịt kín hai đầu, một đầu gắn một sợi dây của mẫu số 03 gửi giám định là Pháo nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ; tổng khối L 1,025kg. 03 vật hình cầu, vỏ ngoài bằng giấy xi măng, một đầu có gắn đoạn dây của mẫu số 04 gửi giám định là Pháo hoa nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo trong ống dẫn hướng sẽ bay lên cao, gây ra tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian; Tổng khối L 0,79kg.”. Tổng khối L pháo thu giữ của Phạm Văn H là 41,56kg.
Tại Công văn số 04/CV-PC09(Đ2), ngày 08/01/2024, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã trả lời: “03 quả Pháo hoa nổ của mẫu số 4 có nguồn gốc tự chế, không đủ căn cứ xác định cụ thể ở đâu. Hiện tại Nhà máy Z121, Bộ Quốc phòng không sản xuất loại pháo hoa nổ có đặc điểm cấu tạo như trên”.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện xe cơ giới đường bộ của Công an huyện T và Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 15B1-643.02, mang tên anh Nguyễn Danh Hùng, sinh năm 1978 ở số 98/69 Chợ Con, phường Trại Cau, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS, ngày 22/01/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Phạm Văn H về tội Tàng trữ hàng cấm, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Phạm Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai số pháo Cơ quan Công an thu giữ là của H mua để về sử dụng trong dịp Tết năm 2024. Mặc dù, H cất giấu pháo ở nhà nhưng gia đình H không ai biết. Số tiền dùng để mua pháo là do H lao động mà có. Chiếc điện thoại di động H sử dụng liên lạc mua pháo đã bị rơi trên đường vận chuyển pháo về nhà. Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave mang biển kiểm soát 15B1-643.02, H mua cách đây hơn 01 năm của người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng, giấy tờ xe H đã làm mất.
Người làm chứng, anh Vũ Xuân L khai: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 23/12/2023, anh L đang đi một mình qua quốc 10, thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện T thì thấy Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ của 01 nam thanh niên: 02 thùng giấy bên trong chứa vật nghi là pháo nổ, trong đó 02 thùng chứa hộp màu đỏ, hồng bên ngoài có chữ nước ngoài và 01 bao tải chứa 10 dây kết tràng dạng pháo màu đỏ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của người này 01 xe mô tô. Trong quá trình làm việc với cơ quan công an, người thanh niên trên khai tên là Phạm Văn H, sinh năm 1991, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Anh Nguyễn Danh H, sinh năm 19xx ở số 98/69 Chợ Con, phường T, Quận L, thành phố Hải Phòng khai: Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 15B1-643.02 anh mua năm 2013, đăng ký mang tên anh. Đến năm 2017 anh bán lại chiếc xe này cho cửa hàng xe máy cũ nhưng anh không nhớ địa chỉ.
Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 08/CT-VKS, ngày 22/01/2024 truy tố Phạm Văn H về tội Tàng trữ hàng cấm, theo điểm g khoản 2 Điều 191 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ hàng cấm và xử phạt từ 42 đến 48 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 4 Điều 191 BLHS, phạt H từ 15.000.000 đồng đến 20.000.0000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave (đã qua sử dụng) mang biển kiểm soát 15B1-643.02; tịch thu và tiêu hủy: 02 thùng giấy (cattong) đã được niêm phong (bên trong có 32,78kg pháo hoa nổ) và 03 chiếc bao dứa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Anh Vũ Xuân L là người làm chứng, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, xét thấy anh L đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn H là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và kết luận giám định. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi trong các ngày 19 và 23/12/2023 của Phạm Văn H thông qua giao dịch trên mạng xã hội Facebook, mua của một người đàn ông không quen biết 41,56kg pháo nổ, với giá 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng mục đích mang về cất giấu để đốt trong dịp Tết năm 2024, là phạm tội Tàng trữ hàng cấm; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 BLHS.
Bị cáo phạm Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý, tàng trữ hàng cấm (pháo nổ), là nguyên nhân trực tiếp gây mất trật tự, an toàn - xã hội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định, mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự (chưa được xóa), tiền án về tội Cướp tài sản đã được xóa án tích. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cho rằng, bị cáo tàng trữ số pháo nổ với số L trên 40kg, nhân thân xấu. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 35, khoản 4 Điều 191 BLHS, xử phạt H 20.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã bán pháo nổ cho H, cũng như chưa xác định được tài khoản Facebook và ứng dụng Mesenger có tên “Huy”, nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng: Số pháo hoa nổ, pháo nổ Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Văn H, Cơ quan giám định đã lấy ra để thực hiện việc giám định, còn lại 32,78kg pháo hoa nổ đã được niêm phong trong 02 thùng giấy (cattong), là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 03 chiếc bao dứa do H dùng để chứa pháo nổ, không còn giá trị sử dụng. Do đó, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave (đã qua sử dụng) mang biển kiểm soát 15B1-643.02 là tài sản của H, H đã dùng để vận chuyển pháo nổ, là phương tiện phạm tội. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS, cần tịch thu chiếc xe này sung vào ngân sách nhà nước. Riêng chiếc điện thoại di động, H sử dụng để liên lạc, giao dịch mua pháo nổ, H đã làm rơi trên đường vận chuyển pháo về nhà, đến nay Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ hàng cấm.
2. Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24/12/2023.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phạm Văn H 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave (đã qua sử dụng) mang biển kiểm soát 15B1-643.02; tịch thu, tiêu hủy 02 (Hai) thùng giấy (cattong) đã được niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 32,78kg pháo hoa nổ) và 03 (Ba) chiếc bao dứa.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an huyện T; - Cơ quan THAHS Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Bị cáo Phạm Văn H; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Chi |