vanban.org

Bản án 06/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 04/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt: 1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Ngh 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước Ngh cùng đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày: 04-03-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Lâm Sơn.

2. Ông Nguyễn Hữu Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 03 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Phước Ngh, sinh ngày 04 tháng 05 năm 2000 tại huyện T, tỉnh B; nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: thợ mộc; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Vt, sinh năm 1975 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1979; vợ: Lý Thị Thanh Th (không đăng ký kết hôn, hiện nay đã bỏ đi đâu không rõ); con: 01 người, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 29/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn xử phạt 9 tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST (bản án đã có hiệu lực pháp luật). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cho đến ngày 20/06/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh.

Bị cáo bị bắt đi thi hành án trong vụ án khác vào ngày 20/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (Theo Quyết định thi hành án phạt tù số 14/2024/QĐ-CA ngày 30/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Võ Văn Nh, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2006 tại thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Kh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Thuận, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1983; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:

- Ngày 18/6/2021, bị Công an huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ” và “Xâm hại sức khỏe người khác” với hình thức cảnh cáo.

- Ngày 16/12/2022, bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Ngày 29/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn xử phạt 6 tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST (bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tây Sơn truy nã, bị bắt ngày 25/10/2023 đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tây Sơn cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Võ Văn Nhựt: bà Nguyễn Thị Hồng Thắm – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Trần Văn Nh, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Th, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

2. Nguyễn Đức Sơn, sinh năm 1997 (có đơn vắng mặt);

Trú tại: thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

3. Lê Khánh Linh, sinh năm 2002 (có đơn vắng mặt);

Trú tại: thôn Vân Tường, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

4. Huỳnh Trọng Cương, sinh năm 2000 (có đơn vắng mặt);

5. Huỳnh Công Luận, sinh năm 2004 (có đơn vắng mặt);

6. Phạm Thành Đạt, sinh năm 2004 (có đơn vắng mặt);

7. Nguyễn Thành Luân, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Đồng trú tại: thôn Trường Định 2, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình

Định;

8. Nguyễn Minh Nhân, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

9. Trần Văn Mạnh, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Hoà Mỹ, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

10. Võ Nhứt Thăng, sinh năm 2004 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Thuận Nhứt, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

11. Hà Văn Sang, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định;

12. Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Kiên Long, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

13. Nguyễn Văn Hiệp, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Trú tại: khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

14. Võ Hoàng Tú, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Trú tại: thôn 2, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

15. Đào Minh Chánh, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Trú tại: khối Thuận Nghĩa, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

16. Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Trà Sơn, xã Tây An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

17. Trần Thế Quang, sinh năm 1959 (vắng mặt);

Trú tại: tổ dân phố Bắc Hoàn Đồn, thị trấn Ba Tơ, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng

Ngãi.

18. Phạm Trường Giang, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Hoà Mỹ, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

19. Đào Quốc Sinh, sinh năm 2001 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Trường Định 2, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

20. Bùi Thị Mỹ Hạnh, sinh năm 1960 (vắng mặt);

21. Hồ Minh Hải, sinh năm 1970 (vắng mặt);

22. Phan Đình Kiếm, sinh năm 1971 (vắng mặt);

23. Nguyễn Khắc Tiến, sinh năm 1977 (vắng mặt);

24. Nguyễn Xuân Cường, sinh năm 1992 (vắng mặt);

25. Đoàn Văn Hào, sinh năm 1965 (vắng mặt);

26. Phạm Bảo Yến, sinh năm 2002 (vắng mặt);

27. Lê Thị Phượng, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Đồng trú tại: thôn Kiên Ngãi, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

28. Nguyễn Văn Sang, sinh năm 1994 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Trường Định 2, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

29. Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Trường Định 1, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

30 Trần Ngọc Như, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Đồng Môn, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà.

31. Nguyễn Ngọc Bảo Thư, sinh năm 2007 (vắng mặt);

Người giám hộ: Nguyễn Nữ Sinh, sinh năm 1992 – Cán bộ huyện đoàn Tây

Sơn

Trú tại: thôn Hội Xương, xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.

32. Phan Nguyễn Anh Thư, sinh năm 2009 (vắng mặt);

Người giám hộ: Nguyễn Nữ Sinh, sinh năm 1992 – Cán bộ huyện đoàn Tây

Sơn

Trú tại: thôn Phú Mỹ 1, xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

33. Đỗ Duy Hùng, sinh năm 2006 (vắng mặt);

Người giám hộ: Nguyễn Nữ Sinh, sinh năm 1992 – Cán bộ huyện đoàn Tây

Sơn

Trú tại: thôn Kiên Long, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

34. Nguyễn Kỳ Nhân, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: khối 1A, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

35. Đào Nam Việt, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: khối 2, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

36. Trần Ngọc Tưởng, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Trú tại: thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

37. Nguyễn Ngọc Việt, sinh năm 1975 (có mặt);

38. Bùi Thị Hoàng, sinh năm 1979 (có mặt);

Đồng trú tại: thôn Trường Định 2, xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình

Định;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Nh (sinh năm 1995, ở thôn Thuận Nhứt, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) có mâu thuẫn với Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1996, ở thôn Kiên Long, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn) trong việc bảo kê tiếp viên karaoke. Khoảng cuối tháng 01/2023, Nguyễn Ngọc Bảo Thư (thường gọi là Nhi, sinh năm 2007, ở thôn Hội Xương, xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) đang làm tiếp viên do nhóm Nhơn quản lý thì chuyển đến ở cùng phòng trọ với Tuấn. Nhơn cho rằng Tuấn dụ dỗ các nữ tiếp viên của nhóm mình. Trưa ngày 04/02/2023, Nhơn cùng Trần Văn Mạnh (sinh năm 1997, ở thôn Hòa Mỹ, xã Bình Thuận) và Võ Nhứt Thăng (sinh năm 2004, ở thôn Thuận Nhứt, xã Bình Thuận) nhậu tại nhà Đào Nam Việt (sinh năm 1995, ở khối 2, TT. Phú Phong, huyện Tây Sơn). Trong lúc nhậu, Nhơn gọi điện thoại cho Tuấn yêu cầu Tuấn bảo Nhi quay về lại nhóm Nhơn. Tuấn trả lời Nhi còn nợ tiền Tuấn và yêu cầu Nhơn đến trả tiền rồi dẫn Nhi về. Nhơn bực tức nên chửi Tuấn và hẹn Tuấn chờ ở nhà trọ để Nhơn đến nói chuyện.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, Nhơn cùng với Mạnh, Thăng đi xe mô tô về nhà trọ của nhóm mình ở thôn Kiên Ngãi, xã Bình Thành (cách nhà trọ của Tuấn khoảng 150m về hướng Đông). Trên đường đi, Nhơn gọi điện thoại nhờ nhóm Nguyễn Đức Sơn (sinh năm 1997, ở thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận) và nói Sơn mang hung khí lên hỗ trợ và tiếp tục gọi Nguyễn Minh Nhân (sinh năm 1995, ở thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận), Huỳnh Công Luận (sinh năm 2004, ở thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận) đến hỗ trợ. Lúc này, Sơn đang ở nhà trọ tại thôn Đại Chí, xã Tây An, huyện Tây Sơn cùng Nguyễn Võ Văn Nhựt (sinh năm 2006, ở thôn Tân Khánh 2, xã Ninh Sim, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa), Lê Khánh Linh (sinh năm 2002, ở thôn Vân Tường, xã Bình Hòa), Huỳnh Trọng Cương (sinh năm 2000, ở thôn Trường Định 2, xã Bình Hòa), Nguyễn Thanh Tùng (sinh năm 1995, ở thôn Trà Sơn, xã Tây An) nên nói lại cho cả nhóm và rủ đi cùng. Nhựt biết Nhơn bảo đồng bọn chuẩn bị lực lượng, hung khí để đánh nhau và đồng ý đi cùng đồng bọn lên xe ô tô biển số 76B-000.56 để Sơn chở đến thôn Kiên Ngãi, xã Bình Thành.

Khi Nhơn về đến nhà trọ nhóm mình, Nhơn kể lại việc mâu thuẫn với Tuấn cho Nguyễn Phước Nghĩa (sinh năm 2000), Nguyễn Thành Luân (sinh năm 2000), Nguyễn Văn Sang (sinh năm 1994) đều ở thôn Trường Định 2, xã Bình Hòa; Nguyễn Văn Hiếu (sinh năm 2000, ở thôn Trường Định 1, xã Bình Hòa); Hà Văn Sang (sinh năm 1996, ở thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận) và một người tên Lép (chưa rõ lai lịch) và nhờ giúp đỡ nếu xảy ra đánh nhau. Nhơn ra trước nhà trọ thì gặp nhóm Sơn đi xe ô tô 76B-000.56 đến, nhóm Sơn xuống xe. Riêng Linh điều khiển xe ô tô quay lại nhà trọ ở thôn Trường Định 2, xã Bình Hòa lấy thêm hung khí và chở Luận, Phạm Thành Đạt (sinh năm 2004) và Đào Quốc Sinh (sinh năm 2001) đều ở thôn Trường Định 2, xã Bình Hòa cùng đến.

Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, thấy Nhơn, Mạnh, Thăng điều khiển xe mô tô đến nhà trọ Tuấn, Nghĩa rủ Cương đi hỗ trợ Nhơn và điều khiển xe mô tô chở Cương theo sau. Tại nhà trọ Tuấn có Tuấn, Nguyễn Văn Hiệp (sinh năm 2000, ở khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn), Đào Minh Chánh (sinh năm 1998, ở khối Thuận Nghĩa, thị trấn Phú Phong) và một số nữ tiếp viên. Nhơn, Mạnh, Thăng vào gặp Tuấn nói chuyện thì xảy ra mâu thuẫn với Hiệp. Nhóm Tuấn cầm bình xịt hơi cay, dao tự chế đuổi đánh nhóm Nhơn chạy ra đường quốc lộ 19B. Nhơn chạy trốn vào nhà dân kế bên còn Nghĩa, Mạnh, Cương, Thăng chạy về hướng nhà trọ nhóm mình. Nhóm Tuấn đuổi theo khoảng 50m thì dừng lại và quay về. Nhóm Nghĩa cũng dừng lại trên đường. Thấy vậy, Nhựt cùng Hà Văn Sang, Sơn, Luân, chạy đến chỗ nhóm Nghĩa. Nhựt lấy 02 viên gạch ống trên lề đường rồi cầm trên hai tay, Cương, Thăng, Luân lấy mỗi người cầm 01 cây gỗ, Mạnh cầm 01 vỏ chai bia, Nghĩa, Sang không cầm gì cùng chạy lại trước nhà trọ Tuấn. Nhựt ném gạch về phía nhóm Tuấn nhưng không trúng ai, rồi hai nhóm đứng cách xa thách thức đánh nhau nhưng không ai đánh ai.

Khi Linh điều khiển xe ô tô chở hung khí đến, Nghĩa và Nhựt đến lấy mỗi người 01 cây giáo rồi cùng một số người nhóm mình chạy bộ, một số đi trên ô tô Linh điều khiển đến nhà trọ Tuấn. Nhóm Tuấn thấy nhóm Nhơn có đông người cầm hung khí chạy đến nên lui dần vào trong nhà trọ mình. Nhóm Nhơn hô hào, cầm gạch đá, cây gậy, hung khí ném về phía nhóm Tuấn. Nghĩa và Nhựt cầm giáo đứng trước nhà trọ Tuấn hô hào, hỗ trợ nhóm mình. Nhóm Tuấn cũng nhặt gạch đá ném lại và lùi sâu vào trong nhà, đóng cửa lại, trong lúc ném nhau thì Hiệp bị ném trúng một cục đá vào đầu. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nghĩa, Nhựt cùng đồng bọn quay về phòng trọ.

Hậu quả: Hiệp bị sưng vùng đầu, thương tích tự khỏi, không điều trị tại cơ sở y tế. Các đồ vật trong nhà trọ của Tuấn bị vỡ bể, hư hỏng gồm: 01 bể cá bằng thủy tinh, 01 cánh cửa nhựa Alu, 14 chậu đất nung trồng phong lan, 02 chậu mai chiếu thủy, 02 chậu men, 01 chậu non bộ.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tây Sơn kết luận: tổng thiệt hại tài sản trong vụ án là 1.898.000 đồng.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 536/KL-VPYTW ngày 26/7/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với Nguyễn Phước Nghĩa, kết luận:

- Về y học: Trước khi gây án: Năm 2019, Đương sự bị bệnh Rối loạn thần cấp; Trong khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Loạn thần không thực tổn không biệt định, giai đoạn ổn định.

- Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay, Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Việc thu giữ, tạm giữ và xử lý các vật chứng, đồ vật trong vụ án được thể hiện tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 27/KLĐT ngày 06/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tây Sơn, Cáo trạng số 34/CT-VKSTS ngày 03/8/2023 của Viện KSND huyện Tây Sơn và Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

Về dân sự: Nguyễn Phước Nghĩa đã tác động gia đình cùng các bị can khác bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Văn Tuấn số tiền 5.000.000 đồng và anh Võ Hoàng Tú (có tài sản để nhà trọ anh Tuấn) số tiền 2.000.000 đồng. Anh Tuấn và anh Tú có đơn bãi nại về dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị can. Riêng Nguyễn Võ Văn Nhựt chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 46/CT – VKSTS ngày 25/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai, thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

* Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa mức án từ 27 đến 30 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Võ Văn Nhựt mức án từ 24 đến 27 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự . Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

* Về phần trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên đề nghị không xét.

* Về xử lý lý vật chứng: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên đề nghị không xét.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, không có ý kiến tranh luận gì khác và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Xuất phát từ mâu thuẫn với Nguyễn Văn T trong việc bảo kê nữ tiếp viên karaoke, khoảng 14 giờ ngày 04/02/2023, Trần Văn Nh đã khởi xướng, huy động lực lượng, chuẩn bị hung khí và trực tiếp cùng với Nguyễn Đức S, Lê Khánh Linh, Huỳnh Trọng C, Hà Văn S, Võ Nhứt Th, Trần Văn M, Nguyễn Thành L, Nguyễn Minh Nh, Huỳnh Công L, Phạm Thành Đ, Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh sử dụng hung khí, hô hào, đuổi đánh nhóm của Nguyễn Văn T trên đường Quốc lộ 19B; khi nhóm Tuấn chạy vào nhà trọ đóng cửa lại, Nhơn và đồng phạm tiếp tục đứng trên đoạn đường Quốc lộ 19B thuộc thôn Kiên Ngãi, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, trước nhà trọ của Tuấn là nơi có nhiều phương tiện giao thông đi qua và đông dân cư sinh sống hô hào, dùng hung khí ném làm hư hỏng một số tài sản của Tuấn, trị giá tài sản bị thiệt hại là 1.898.000 đồng, gây ách tắc giao thông, náo loạn cả khu vực đông dân cư trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đối với Trần Văn Nhơn, Nguyễn Đức Sơn, Lê Khánh Linh, Huỳnh Trọng Cương, Phạm Thành Đạt, Huỳnh Công Luận, Nguyễn Minh Nhân, Hà Văn Sang, Võ Nhứt Thăng, Trần Văn Mạnh, Nguyễn Thành Luân đã được xét xử tại Bản án số 37/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung là “Dùng hung khí, có hành vi phá phách” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào những quy tắc về trật tự ở những nơi công cộng, khu dân cư. Hành vi của các bị cáo cùng với nhóm của Nhơn và đồng phạm diễn ra vào ban ngày, tại khu vực đông dân cư, trên đường quốc lộ 19B có nhiều phương tiện đi lại. Khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã có rất đông người dân xung quanh chứng kiến, các phương tiện giao thông di chuyển trên đường phải dừng lại, gây hoang mang, lo sợ cho dân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Ngoài ra, các bị cáo còn xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, mang theo hung khí, có hành vi phá phách gây thiệt hại về tài sản. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa 09 (chín) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và bị cáo Nguyễn Võ Văn Nhựt 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” (bản án đã có hiệu lực pháp luật). Hiện nay các bị cáo Nghĩa, Nhựt đã có quyết định thi hành án, đang chờ thi hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tây Sơn theo Bản án hình sự số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Như vậy, đến ngày 04/03/2024 bị xét xử về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án mới, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó:

- Vai trò của Trần Văn Nhơn và đồng phạm đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh tham gia vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể nên mức hình phạt các bị cáo tương xứng vai trò mà các bị cáo đã tham gia.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nghĩa đã khắc phục xong hậu quả cho những người bị thiệt hại tài sản và có đơn bãi nại về dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo đang bị đau bệnh (theo kết luận giám định pháp y tâm thần) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nhựt tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng thêm Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo: Nguyễn Phước Nghĩa, Nguyễn Võ Văn Nhựt có nhân thân xấu. Do đó, cần thiết cách ly các bị cáo Nghĩa, Nhựt ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về phần trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.

Về xử lý lý vật chứng: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.

Đối với Nguyễn Thanh Tùng có mặt tại hiện trường vụ án nhưng quá trình điều tra không có đủ tài liệu chứng minh Tùng có tham gia sử dụng hung khí đánh nhau với nhóm Tuấn nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Đối với đối tượng Lép có hành vi cầm hung khí cùng chạy theo nhóm các bị can nhưng quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của đối tượng này để điều tra, xử lý sau.

Đối với hành vi của Trần Văn Nhơn cùng những đồng phạm khác đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

2.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Ngh 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 33 (ba mươi ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án ngày 20/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, đã có hiệu lực pháp luật và Quyết định thi hành án phạt tù số 14/2024/QĐ-CA ngày 30/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn) nhưng được khấu trừ thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 cho đến ngày 20/06/2023.

2.2 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Võ Văn Nh 18 (mười tám) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội bắt, giữ người trái pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/10/2023.

3. Về phần trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.

4. Về xử lý lý vật chứng: Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 14/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Phước Ngh, Nguyễn Võ Văn Nh, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo và đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ