- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HS-ST Ngày: 19-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Thành Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kiệm và ông Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Công C, sinh năm 1989, tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 6, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công T (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 12/7/2023 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân:
+ Ngày 02/3/2017 TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 24/3/2018);
+ Ngày 05/10/2020 Công an huyện Lý Nhân ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Mua các số lô, số đề trái phép”;
Bị tạm giữ từ ngày 03/11/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 12/11/2023 cho đến nay; có mặt
- Bị hại: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Công V, sinh năm 1965; vắng mặt.
Anh Nguyễn Công P, sinh năm 1983; vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Thôn 6, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.
- Người làm chứng: Ông Phạm Đình H, sinh năm 1957; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 03/11/2023, Nguyễn Công C đi bộ sang nhà Nguyễn Công P (là em họ ở cùng thôn) rủ P đi trộm cắp tài sản, P đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS 90F1 - 8182 chở C ngồi sau đi lang thang trên các tuyến đường xem ai có tài sản để sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực nhà bà Phạm Thị T ở Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam, C nhìn thấy chiếc máy bơm nước màu đỏ để ở bờ ao trong khu vườn nhà bà T liền vỗ vai bảo P “đi chậm lại, có cái máy bơm”, P điều khiển xe đi chậm lại để cho C xuống xe, còn Phòng điều khiển xe mô tô đi tiếp một đoạn để quan sát xung quanh. Sau khi xuống xe, C nhảy qua tường rào vào khu vườn đến vị trí chiếc máy bơm rồi rút phích điện, rút ống nhựa dẫn nước và xách chiếc máy bơm ra đặt chân tường bao để chuẩn bị trèo ra ngoài thì bị ông Phạm Đình H (là hàng xóm với bà T) phát hiện hô hoán và cùng người dân bao vây, bắt giữ được C. P ở ngoài thấy C bị người dân bắt giữ liền chạy vào nói với mọi người tha thứ, lợi dụng sơ hở C đã bỏ chạy ra cánh đồng về nhà, P lên xe định bỏ chạy thì bị người dân giữ lại và bàn giao P cùng phương tiện, tang vật cho Công an xã Đ để giải quyết. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của bà Phạm Thị T, Công an xã Đ làm thủ tục chuyển vụ việc cùng vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt là CSĐT) - Công an huyện Lý Nhân để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 03/11/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân đã thi hành Lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Công C về hành vi trộm cắp tài sản thu giữ 01 áo ngắn tay màu đen; 01 quần đùi màu xanh; 01 đôi dép lê màu xanh và 01 mũ lưỡi trai màu xanh là đồ vật mà C sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐGTS ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị chiếc máy bơm nhãn hiệu Shinil, moden SIP 250 BE màu đỏ đã cũ, có giá trị là: 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng”.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chiếc máy bơm nước nhãn hiệu Shinil, moden SIP 250 BE màu đỏ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị T nên cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Phạm Thị T. Sau khi nhận lại tài sản, bà T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 90F1- 8182, tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Công V, sinh năm 1959, trú tại thôn 6, xã N, huyện L (là bố đẻ Nguyễn Công P). P tự lấy xe mô tô đi và ông V không biết P sử dụng xe mô tô của mình làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp. Ngày 27/11/2023, Cơ quan - CSĐT Công an huyện Lý Nhân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Nguyễn Công V.
Đối với 01 áo ngắn tay màu đen; 01 quần đùi màu xanh; 01 đôi dép lê màu xanh và 01 mũ lưỡi trai màu xanh. Tài liệu điều tra xác định là đồ vật cá nhân của Nguyễn Công C sử dụng khi đi thực hiện hành vi phạm tội, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Quá trình điều tra: Nguyễn Công C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-LN ngày 14/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, truy tố bị cáo Nguyễn Công C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Công C. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công C từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không phải giải quyết. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Công C thừa nhận và khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp đã thực hiện trong vụ án, đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố bị cáo; không có ý kiến gì đối với các chứng cứ buộc tội, cũng như các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát, bản thân đã nhận thức rõ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện; phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Với mục đích trộm cắp tài sản, khoảng 08 giờ 20 phút ngày 03/11/2023, Nguyễn Công P điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Công C đi trộm cắp tài sản, lợi dụng sở hở trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Công C đã đột nhập vào khu vườn nhà bà Phạm Thị T ở Thôn N, xã Đ, huyện L trộm cắp 01 chiếc máy bơm nước của bà Tcó trị giá 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng. Mặc dù tài sản mà Nguyễn Công C trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 (Hai triệu) đồng, nhưng trước đó vào ngày 12/7/2023 đã bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, lại tiếp tục vi phạm nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu (ngày 02/3/2017, bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 05/10/2020, bị Công an huyện Lý Nhân ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Mua các số lô, số đề trái phép”).
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Ngay sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Công C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu đã bị Toà án có thẩm quyền xét xử, bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng hiện nay.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt cho phù hợp.
- Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bổ sung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo ngắn tay màu đen; 01 quần đùi màu xanh; 01 đôi dép lê màu xanh và 01 mũ lưỡi trai màu xanh, tất cả đều đã cũ, qua sử dụng, là đồ vật cá nhân của Nguyễn Công C sử dụng khi đi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Công P đã cùng với Nguyễn Công C đi trộm cắp tài sản. Do trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng và kết quả điều tra xác định Nguyễn Công P chưa bị kết án và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, nên không đủ căn cứ để khởi tố xử lý về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/11/2023, Công an huyện Lý Nhân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Công P về hành vi trộm cắp tài sản là phù hợp với quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 áo ngắn tay màu đen; 01 quần đùi màu xanh; 01 đôi dép lê màu xanh và 01 mũ lưỡi trai màu xanh, tất cả đều đã cũ, qua sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L ngày 15/12/2023)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (vụ GĐKT I); - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Cơ quan CSĐT- CA huyện L; - Chi cục THADS huyện L; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - C TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Thành Nam |