vanban.org

Bản án 06/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Giao bị cáo Nguyễn Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc K-Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƢƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày: 29-01-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/HSST ngày 19/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 22/01/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc K; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/8/1985 tại Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: thôn G, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1959 và con bà Phan Thị C sinh năm 1960 hiện ở thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình bị cáo có 05 anh, chị em ruột, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1991. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Họ tên vợ: Hoàng Thị Bích N, sinh năm 1992. Hiện ở: thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Tiền sự, Tiền án: Không.

Bị cáo Nguyễn Quốc K hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Công an huyện Đ phát hiện trên nóc nhà vệ sinh tại kho đóng gói nông sản của gia đình ông Nguyễn Quốc K ở thôn G, xã L có 09 khối hộp chữ nhật kích thước (15x15x12) cm vỏ bên ngoài nhiều màu sắc có ghi chữ pháo nổ và 01 bịch nylon kích thước (17 x 21) cm bên trong chứa vật hình cầu, nhiều màu sắc, có gắn dây dẫn màu xanh. Qua điều tra, Nguyễn Quốc K khai nhận số tang vật trên là pháo nổ mua vào tháng 05/2023 qua mạng xã hội Facebook (không nhớ rõ tên người bán) với giá mỗi hộp là 200.000 đồng. Công an huyện Đ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quốc K và thu giữ số tang vật nói trên.

Tại kết luận giám định số 02/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận:

+ 441 viên giấy hình trụ tròn, mỗi viên có đường kính 2,3 cm, cao 10 cm chứa trong 09 khối hộp gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ có khối lượng là 14,67 kg.

+ 100 viên nhựa hình cầu, mỗi viên có đường kính 2,7cm có sợi dây dẫn mầu xanh dẫn từ bên trong gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ có khối lượng là 0,43 kg.

Tổng khối lượng pháo là 15,1 kg.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSĐD ngày 18/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị can Nguyễn Quốc K về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số lượng pháo còn lại sau giám định.

Bị cáo Nguyễn Quốc K không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận bị cáo có mua 09 khối hộp chữ nhật kích thước (15x15x12)cm và 100 viên giấy hình cầu là pháo nổ vào tháng 05/2023 qua mạng xã hội Facebook (không nhớ rõ tên người bán) với giá mỗi hộp là 200.000 đồng, tổng cộng 1.800.000đ. Bị cáo đem giấu trên nóc nhà vệ sinh tại kho đóng gói nông sản của gia đình. Đến ngày 31/12/2023 thì bị phát hiện bắt giữ, mục đích là để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán năm 2024. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Vào tháng 5 năm 2023, Nguyễn Quốc K đã có hành vi mua về tàng trữ 14,1kg pháo nổ mục đích để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán năm 2024. Đến ngày 31/12/2023 thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 5 Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ với khối lượng 14,1kg nêu trên của Nguyễn Quốc K đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo biết việc mua, tàng trữ pháo nổ bị pháp luật nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm của nhà nước. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm đảm bảo đấu tranh và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly ngoài xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Ý kiến của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Về vật chứng:

Đối với 09 (chín) hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối dán giấy nhiều màu sắc. Trong đó: 05 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911” và 03 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911N” và 01 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911L” bên trong mỗi khối đều chứa 47 viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 1,3cm, cao 10 cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra ngoài; 95 viên pháo bên ngoài vỏ nhựa hình cầu, mỗi viên có đường kính 2,7 cm có sợi dây dẫn mầu xanh dẫn từ bên trong thân ra còn lại sau khi gửi giám định là tang vật vụ án nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với đối tượng bán pháo cho K do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tách ra điều tra xử lý sau là đúng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 09 (chín) hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối dán giấy nhiều màu sắc Trong đó: 05 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911” và 03 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911N” và 01 khối có dòng chữ có nội dung “KS4-4911L” bên trong mỗi khối đều chứa 47 viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 1,3cm, cao 10 cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra ngoài; 95 viên pháo bên ngoài vỏ nhựa hình cầu, mỗi viên có đường kính 2,7 cm có sợi dây dẫn mầu xanh dẫn từ bên trong thân ra.

(Đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đơn Dương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2024).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ