vanban.org

Bản án 06/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Út Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Út 09 (Chín) tù, thời hạn tù được tính từ ngày 24/8/2023. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn Út … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Út Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Út Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày 26- 01- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành.

Ông Hà Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn Út Th, sinh ngày 01/01/1992;

Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện A tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Không biết chữ;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Ngô Văn D (đã chết) và bà Trần Thị A (đã chết);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam ngày 24/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Võ Thị Q, sinh năm 1985. Vắng mặt

Trú tại: Ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 23/8/2023, Ngô Văn Út Th đi bộ về nhà thì nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68M1-346.11, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu xanh để cặp lộ thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang không có người trong coi nên nãy sinh ý định lấy trộm, Th đi đến lấy trộm xe rồi điều khiển xe chạy đến cầu B thì tháo biển số xe 68M1-346.11 vứt bỏ. Đến ngày 24/8/2023 khi Th điều khiển xe trộm được chạy về nhà thì bị bắt giữ.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68M1-346.11, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, số khung 09003Y215171, số máy HC09E0215184, màu xanh và 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng V.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện A kết luận: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68M1-346.11, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, số khung 09003Y215171, số máy HC09E0215184, màu xanh có trị giá 7.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSHAB ngày 14/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Ngô Văn Út Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Út Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Ngô Văn Út Th từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 23/8/2023, Ngô Văn Út Th lấy trộm 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68M1-346.11, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu xanh của Võ Thị Q có giá trị theo kết quả định giá là 7.000.000 đồng. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Ngô Văn Út Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản của họ là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để chi xài cá nhân mà bị cáo đã bất chấp mọi hậu quả pháp lý. Hành vi của bị cáo không những đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sở hữu tài sản của chủ sở hữu hợp pháp mà còn làm mất an ninh trật tự xã hội và gây hoang mang tư tưởng của người dân địa phương.

Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, chuâ có tiền án, tiền sự; tài sản đã được trả lại cho người bị hại. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo với mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, đủ răn đe đối với bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về biện pháp tư pháp: Đã trả lại cho người bị hại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68M1-346.11, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, số khung 09003Y215171, số máy HC09E0215184, màu xanh và 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Hoàng V nên miễn xét.

Đối với biển số xe 68M1-346.11 bị cáo tháo quăng bỏ, đã tiến hành truy tìm không gặp nên miễn xét.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Văn Út Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Út Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Út 09 (Chín) tù, thời hạn tù được tính từ ngày 24/8/2023.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn Út Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th́ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ