vanban.org

Bản án 06/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 12/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo c a ị cáo Trần Thanh H. iữ nguyên quy t định c a ản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh H.

Tuyên ố ị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt ị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thanh H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo c a ị cáo Trần Thanh H. iữ nguyên quy t định c a ản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HS-PT
Ngày: 12-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 308/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Trần Thanh H. Do c kháng cáo c a ị cáo Trần Thanh H đối với ản án hình sự sơ thẩm số: 25/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 c a Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

- Bị cáo c háng cáo: Trần Thanh H, sinh năm 1991, tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: số I, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Phòng số 14, nhà trọ “Thanh Phong” thuộc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1, sinh năm 1969 và bà Trần Thanh T, sinh năm 1973; anh chị em ruột: c 01 người, sinh năm 2005; vợ là chị Bùi Thị T1, sinh năm 1988; con ruột: c 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang ị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh H: Luật sư Trần Văn N - văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Vi n i m át hông háng nghị.

NỘ

N

N:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn i n tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Do c mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt hàng ngày (phơi quần áo) giữa Trần Thanh H, chị Bùi Thị T1 (vợ H) đang thuê phòng số 03 với ông Hồ Tấn A, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, anh Nguyễn Minh C, chi Nguyễn Thị Ngọc Thúy V đang thuê phòng số 04 cùng ở nhà trọ “T" tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 16/12/2022 à Bùi Thị L (là dì c a T1) và chị Nhơn Hồng T2 đi đ n phòng số 03, nhà trọ “Tuấn Phương 6” để chơi thì nghe chị T1 kể lại mâu thuẫn giữa các bên, nên bà L đi qua phòng số 04 để nói chuyện thì xảy cự cải với chi Nguyễn Thị Ngọc Thúy V. Lúc này bà L lấy một thanh gỗ có sẵn dưới nền gạch (dài 1,35m, rộng 0,047m, dầy 0,018m) chọt về phía chị V nhưng không trúng, chị V nắm được thanh gỗ kéo mạnh về phía mình, dùng tay đánh vào vùng mặt bà L nhưng không trúng, à L nắm t c chị V thì được Trần Thanh H, chị Nhơn Hồng T2, chị Bùi Thị T1 can ngăn. Sau đ à L và chị T2 bỏ đi, còn chi V trở về phòng số 04 điện thoại cho ông Hồ Tấn A, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, anh Nguyễn Minh C bi t sự việc.

Đ n khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, ông Hồ Tấn A, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về đ n, ông A đi vào phòng trọ số 03 để nói chuyện với H, thì hai bên ti p tục xảy ra cự cãi, ông A dùng tay phải gỡ n n ảo hiểm đang đội trên đầu đánh trúng vào gò má ên phải c a Trần Thanh H, H dùng tay phải đánh trúng vào gò má phía ên trái c a ông A và làm cho ông A té ngã ra ngoài. Lúc này, anh Nguyễn Minh C cũng vừa về tới thấy ông A bị đánh, nên chạy tới định ti p ông A, thì H dùng tay phải lấy 01 con dao ằng kim loại màu đen, dài 30cm, ề rộng 6cm được để sẵn tại cửa sổ phòng số 03 chém, anh C dùng 2 tay đỡ, bị trúng 02 nhát vào mặt ngoài khuỷa tay trái; 01 nhát trúng vào mặt trong khuỷa tay trái; 01 nhát trúng vào mặt ngoài cánh tay trái; 01 nhát trúng vào mặt ngoài cổ tay phải. Bị chém, anh C gỡ nón bảo hiểm đang đội trên đầu đánh trúng 01 cái vào đỉnh đầu phía bên trái, 01 cái vào mu bàn tay trái c a H. Sau đ anh C bỏ chạy ra ngoài nhà trọ và được đưa đ n Bệnh viện Đ điều trị thương tích đ n ngày 21/12/2022 thì xuất viện.

Ngày 19/12/2022 Nguyễn Minh C c đơn yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Thanh H.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ gồm: 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 30cm, rộng 06cm; 01 mũ ảo hiểm xe mô tô màu xám đen (đã qua sử dụng); 01 thanh gỗ màu nâu vàng, dài 1,35m, rộng 0,047m, dầy 0,018m; Nhiều mảnh vỡ viên gạch được đựng trong túi niêm phong; 01 áo thun màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 quần sọt Jean màu xanh trắng, đã qua sử dụng.

Tại Bản k t luận giám định pháp y về thương tích số 103/TgT ngày 09/3/2022 c a Trung tâm pháp y thuộc Sở y t tỉnh Đ k t luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- 04 Sẹo v t thương phần mềm vùng mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái, mặt sau trong, mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước trung bình. Mỗi sẹo: 02%.

- Sẹo v t thương phần mềm mặt sau cổ tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 01%.

- Gãy 1/3 giữa xương trụ trái, can liền tốt. Tỷ lệ tổn thương: 08%.

2. K t luận: Căn cứ bản tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 c a Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Nguyễn Minh C do thương tích gây nên hiện tại là 16%, tại thời điểm giám định. Theo nguyên tác cộng lùi tại Thông tư (khi c từ 02 tỷ lệ tổn thương trở lên).

3. K t luận khác: Các tổn thương trên do vật có cạnh sắc bén gây ra.

Tại ản án hình sự sơ thẩm số: 25/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 c a Tòa án nhân dân tha nh phố Sa Đéc, đã quy t định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên ố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm tù. Tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, ị cáo Trần Thanh H c đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Trần Thanh H bị Tòa án cấp sơ thẩm quy k t về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định c a pháp luật. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và cung cấp thêm đơn ti p tục xin miễn giảm trách nhiệm hình sự c a ị hại, xác nhận c a chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình c a ị cáo kh khăn, ị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi 02 con nhỏ và người chú bị bệnh. Tuy nhiên đây không phải là điều kiện cho ị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đ , đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo c a ị cáo, giữ nguyên phần quy t định c a ản án sơ thẩm về hình phạt đối với ị cáo Trần Thanh H.

Luật sư ào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm thống nhất với bản án sơ thẩm và quan điểm c a kiểm sát viên về tội danh và điều khoản c a tội danh áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa sơ, phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình c hoàn cảnh kh khăn, c 02 con nhỏ và người chú bị bệnh nhưng cũng đã cố gắng khắc phục xong phần ồi thương cho bị hại. Về phía bị hại, thấy mình cũng c một phần lỗi nên đã làm đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho ị cáo được hưởng án treo.

N N N

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo Trần Thanh H đã thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a ị cáo phù hợp với lời khai c a ị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai c a ị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Do c mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt hàng ngày giữa Trần Thanh H, chị Bùi Thị T1 (vợ H) với ông Hồ Tấn A, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, anh Nguyễn Minh C nên vào ngày 16/12/2022 ị cáo H đã c hành vi dùng dao gây thương tích cho ị hại C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16% tại thời điểm giám định.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a ị cáo Trần Thanh H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đ n sức khỏe c a người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, c thể chất, tinh thần phát triển ình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao ti p xã hội, nhận thức được pháp luật, có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng dao chém gây thương tích cho ị hại. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao chém vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng ị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho ị hại ị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 16%; chứng tỏ việc phạm tội c a ị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử ị cáo Trần Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và cung cấp thêm đơn ti p tục xin miễn giảm trách nhiệm hình sự c a ị hại, xác nhận c a chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình c a ị cáo khó khăn, ị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi 02 con nhỏ và người chú bị bệnh. Đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đây không phải là điều kiện để cho ị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đ , Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo c a ị cáo, giữ nguyên phần quy t định c a ản án sơ thẩm về hình phạt đối với ị cáo Trần Thanh H.

[4] Xét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Thanh H là hoàn toàn c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị c a vị luật sư ào chữa cho bị cáo là chưa phù hợp như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên nên không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo c a ị cáo Trần Thanh H không được chấp nhận nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác c a quy t định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo c a ị cáo Trần Thanh H. iữ nguyên quy t định c a ản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh H.

2. Tuyên ố ị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt ị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo Trần Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác c a quy t định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ