- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bui Thi Kim P- Huynh N ly hon, tranh chap nuoi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày 21/02/2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Bình
Ông Bùi Vạn Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 407/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim P, sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Ông Huỳnh N, sinh năm 1970, nơi cư trú: Xóm S, thôn M, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Bà P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2023, bản tự khai ngày 02/11/2023 và các tài liệu có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Ngô tự n tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 24/12/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S (nay là phường T, thành phố Q). Sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông N không có trách nhiệm với vợ và con, nhiều lần đánh đập bà, cả hai đã sống ly thân. Nay, nhận thấy giữa bà và ông N đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông Huỳnh Ngô đ ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Huỳnh Bùi Trọng N1, sinh ngày 11/9/2012. Hiện nay cháu đang sinh sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu N1, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Huỳnh Ngô t quá trình giải quyết vụ án, Tòa thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt nhưng ông N không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền lợi của các đương sự trong vụ án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 68, 203, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn ông Huỳnh N; về con chung: Giao cháu Huỳnh Bùi Trọng N1, sinh ngày 11/9/2012 cho bà P trực tiếp nuôi, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Bà P trình bày không có, nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Huỳnh Ngô l bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa, nhưng ông Huỳnh Ngô v vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 không có lý do. Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P và ông Huỳnh Ngô tự n tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 24/12/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S (nay là thành phố Q) theo giấy chứng nhận kết hôn số 170, quyển số 01/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông N là hợp pháp.
Bà Bùi Thị Kim P trình bày quá trình chung sống giữa bà và ông Ngô x ra mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống khác nhau, ông N không có trách nhiệm với vợ và con, nhiều lần đánh đập bà, cả hai đã sống ly thân 1 năm nay. Ông Huỳnh Ngô n1 được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông Ngô l1 vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P và cho bà P ly hôn với ông N
Về con chung: Bà P và ông N có 01 con chung là cháu Huỳnh Bùi Trọng N1, sinh ngày 11/9/2012. Hiện nay cháu N1 đang sinh sống với bà P. Khi ly hôn bà P yêu cầu được nuôi cháu N1, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Theo biên bản xác minh ngày 15/12/2023 tại Hội liên hiệp phụ nữ xã T, thành phố Q có nội dung: “Hội liên hiệp phụ nữ xã chỉ biết hiện nay ông N và bà P không còn sống chung với nhau, bà P và cháu Huỳnh Bùi Trọng N1 đang ở tại phường T, còn ông N đang ở tại xã T”. Và cháu Huỳnh Bùi Trọng N1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cháu Huỳnh Bùi Trọng N1 cho bà P trực tiếp nuôi.
Bà P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị Kim P trình bày không có.
Về án phí: Bà Bùi Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi về thủ tục tố tụng và nội dung là phù hợp với nhận định đã nêu của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn ông Huỳnh N
- Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Huỳnh Bùi Trọng N1 cho bà Bùi Thị Kim P trực tiếp nuôi. Bà P không yêu cầu ông Huỳnh Ngô cấp d nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị Kim P trình bày không có.
- Về án phí: Bà Bùi Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000042 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Tp. Quảng Ngãi; - Chi cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - UBND phường T, tp Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Như |