- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm vợ chồng: Không công nhận anh Tô Văn Thắng và chị Nguyễn Thị Mẫn (tức Nhất) là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2024. V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại, bà Đào Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y - tỉnh B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2023/TLST - HNGĐ, ngày 22/12/2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Tô Văn T, sinh năm 1971 (có mặt).
Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh B.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M (tức N), sinh năm 1971 (xin xét xử vắng mặt).
HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh B.
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời khai tại Toà án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là anh Tô Văn Thắng trình bày:
Anh Thắng chung sống với chị Nguyễn Thị Mẫn vào ngày 10/9/1991 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi nhưng không đăng ký kết hôn. Lý do lúc đó do tuổi còn trẻ, không hiểu biết nên không đăng ký kết hôn.
Sau khi cưới, vợ chồng sống tại Thượng Thôn, Đông Tiến, Yên Phong, Bắc Ninh. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Mẫn tham gia hội đạo tràng, bỏ bê gia đình. Gia đình có khuyên bảo nhiều lần nhưng không thay đổi. Chị Mẫn về nhà bố mẹ đẻ của chị Mẫn ở thôn Đông Xuyên, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong từ năm 2020 đến nay, vợ chồng sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng. Nay anh Thắng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn với chị Mẫn.
- Về con chung: Anh Thắng và chị Mẫn có 03 con chung là Tô Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 06/02/1995; Tô Thị Thùy Dung, sinh ngày 13/10/1996 và Tô Trọng Tín, sinh ngày 15/12/2002. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Anh Thắng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã giao giấy triệu tập hợp lệ nhưng chị Mẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà chị Mẫn để tiến hành lấy lời khai, nhưng chị Mẫn không có nhà, do vậy Tòa án không lấy lời khai của chị Mẫn được.
Tại Biên bản làm việc của Tòa án với đại diện Ủy ban nhân dân xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thể hiện: Hiện nay tại Ủy ban nhân dân xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh chỉ lưu giữ Sổ đăng ký kết hôn từ năm 1999 đến nay. Qua kiểm tra Sổ đăng ký kết hôn lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cho thấy anh Tô Văn Thắng, sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị Mẫn (tức Nhất), sinh năm 1971 có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh không có tên trong Sổ đăng ký kết hôn.
Tại phiên tòa, anh Tô Văn Thắng vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn chị Nguyễn Thị Mẫn.
Chị Nguyễn Thị Mẫn gửi Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 07 tháng 3 năm 2024 đến Tòa án. Do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Mẫn theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không lên Toà án làm việc.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX.
Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều, 9,14, Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình. Theo khoản 4, Điều 3 Thông tư 01/2016/TA- VKS- BTP.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Tô Văn Thắng và chị Nguyễn Thị Mẫn (tức Nhất) là vợ chồng.
- Về con chung: Anh Thắng và chị Mẫn có 03 con chung là Tô Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 06/02/1995; Tô Thị Thùy Dung, sinh ngày 13/10/1996 và Tô Trọng Tín, sinh ngày 15/12/2002. Các con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Anh Thắng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Tô Văn Thắng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Thắng được ly hôn chị Nguyễn Thị Mẫn. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Mẫn trú tại thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Tô Văn Thắng, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Thắng và chị Mẫn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Căn cứ vào khoản 1, điều 9; khoản 1, điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ chồng”. Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu ly hôn thì tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Bởi vậy quan hệ hôn nhân giữa anh Thắng và chị Mẫn không được pháp luật thừa nhận. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tô Văn Thắng và chị Nguyễn Thị Mẫn.
Về con chung: Anh Thắng và chị Mẫn có 03 con chung là Tô Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 06/02/1995; Tô Thị Thùy Dung, sinh ngày 13/10/1996 và Tô Trọng Tín, sinh ngày 15/12/2002. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Anh Thắng phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 239, 248, 260, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình. Theo khoản 4, Điều 3 của Thông tư 01/2016/TA- VKS – BTP.
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tình cảm vợ chồng: Không công nhận anh Tô Văn Thắng và chị Nguyễn Thị Mẫn (tức Nhất) là vợ chồng.
2. Về con chung: Anh Thắng và chị Mẫn có 03 con chung là Tô Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 06/02/1995; Tô Thị Thùy Dung, sinh ngày 13/10/1996 và Tô Trọng Tín, sinh ngày 15/12/2002. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Anh Tô Văn Thắng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận anh Tô Văn Thắng đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 02238 ngày 20/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Yên Phong; - Chi cục THADS huyện Yên Phong; - UBND xã Đông Tiến; - Đương sự; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lu HS, VP. Hội thẩm nhân dân | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hữu Hiển Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Hữu Hiển |