- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị C - Trần Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phùng Thị C với ông Trần Văn Ch.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 01 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan;
2. Bà Lý Thị Mỹ Diệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 378/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị C, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Tổ 20, ấp T, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Ch, sinh năm 1965; địa chỉ cư trú: Tổ 20, ấp T, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2023, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phùng Thị C trình bày:
Bà và ông Trần Văn Ch sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó không hạnh phúc nữa vợ chồng thường xuyên gây gỗ với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Hiện tại, bà không còn tình cảm với ông Ch. Nay, bà yêu cầu ly hôn với ông Ch.
Về con chung: Bà và ông Ch có 02 con chung gồm: Trần Thị Thuỳ T, sinh năm 2002 và Trần Thị Cẩm Th, sinh ngày 07/7/2009, sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Thị Cẩm Th, không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con. Còn con chung Trần Thị Thuỳ T đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - Ông Trần Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 9, 14, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:
Về hôn nhân: Không công nhận bà Phùng Thị C và ông Trần Văn Ch là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Cẩm Th, sinh ngày 07/7/2009 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con. Đối với Trần Thị Thuỳ T đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Phùng Thị C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Bà Phùng Thị C là nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Trần Văn Ch là bị đơn, vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông Ch.
Về hôn nhân: Bà Phùng Thị C, ông Trần Văn Ch chung sống với nhau vào từ năm 2001 không có đăng ký kết hôn. Xét việc sống chung với nhau như vợ chồng của bà C, ông Ch không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do vậy, căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phùng Thị C, ông Trần Văn Ch.
Về nuôi con chung: Bà C và ông Ch có 02 con chung gồm: Trần Thị Thuỳ T, sinh năm 2002 và Trần Thị Cẩm Th, sinh ngày 07/7/2009. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Thị Cẩm Th, không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Trần Thị Thuỳ T đã trưởng thành, bà C không yêu cầu giải quyết. Xét yêu cầu nuôi con chung của bà C, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu Th đang sống cùng bà C, nguyện vọng của cháu T là muốn sống cùng mẹ khi cha mẹ ly hôn nên để cháu T cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bà C không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Phùng Thị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bà Phùng Thị C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phùng Thị C với ông Trần Văn Ch.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Thị Cẩm Th, sinh ngày 07/7/2009 cho bà Phùng Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận, bà C không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Văn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền cản trở.
Ghi nhận, con chung Trần Thị Thuỳ T, sinh năm 2002 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận, bà Phùng Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Phùng Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà C đã nộp tại biên lai thu số 0008753 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận, bà C đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Phùng Thị C, ông Trần Văn Ch có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.Tân Châu; - THA-DS H.Tân Châu; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Thị Xuân Lan |