vanban.org

Bản án 06/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Sơn Thanh N Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-D"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/03/2024

HUYỆN PHÚ GIÁO Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm; Ông Phạm Văn Trung. - Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Phan Sơn Thanh N, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 1, Khu phố 5, phường TĐ, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; có đơn xin vắng mặt. - Bị đơn: Ông Võ Minh D, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam An Phước, C10, Bộ công an; địa chỉ: Ấp 5, xã AT, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phan Sơn Thanh N trình bày như sau: Về hôn nhân: Bà N và ông D chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Việc sống chung và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Thời

gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì không hạnh phúc nữa mà thường hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Nay, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N xin ly hôn với ông D. Về con chung: Bà N và ông D có 01 người con tên Võ Minh T, sinh ngày 31/7/2019. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Tại bản tự khai bị đơn ông Võ Minh D trình bày: Về hôn nhân: Ông D và bà N chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Việc sống chung và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do ông D đang phải chấp hành án tại Trại giam An Phước. Nay, bà N xin ly hôn thì ông D đồng ý. Về con chung: Bà Phan Sơn Thanh N và ông Võ Minh D có 01 người con tên Võ Minh T, sinh ngày 31/7/2019. Khi ly hôn, ông D đồng ý giao con cho bà N nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật. HĐXX thực hiện khai mạc phiên toà, phần thủ tục, phần tranh tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Bà N và ông D chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Bà N và ông D đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên nguyên đơn tự nguyện xin ly hôn với bị đơn. Bị đơn cũng đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Do vậy, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Bà Phan Sơn Thanh N và ông Võ Minh D có 01 người con tên Võ Minh T, sinh ngày 31/7/2019. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con, ông D cũng đồng ý giao con cho bà N nuôi dưỡng. Do vậy, đề nghị HĐXX giao

con chung cho bà N nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Sơn Thanh N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Minh D, bị đơn hiện cư trú tại xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Các đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [2] Về hôn nhân: Bà N và ông D chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Bà N và ông D đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 và có đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên nguyên đơn tự nguyện xin ly hôn với bị đơn, bị đơn cũng đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. [3] Về con chung: Bà Phan Sơn Thanh N và ông Võ Minh D có 01 người con tên Võ Minh T, sinh ngày 31/7/2019. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con, ông D cũng đồng ý giao con cho bà N nuôi dưỡng. Do vậy, HĐXX quyết định giao con chung cho bà N nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét. [5] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. [6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Sơn Thanh N đối với bị đơn ông Võ Minh D về việc “Ly hôn”. 2. Về hôn nhân: Bà Phan Sơn Thanh N được ly hôn với ông Võ Minh D. 3. Về con chung: Giao con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 31/7/2019 cho bà Phan Sơn Thanh N nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp quy định của pháp luật. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét. 5. Về án phí: Bà Phan Sơn Thanh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005551 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo. 6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ