vanban.org

Bản án 06/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thu H đối với anh Trần Tất N;

Xử ly hôn giữa chị Đào Thu H và anh Trần Tất N. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số: 0000543 ngày 04/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh N."
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thu H đối với anh Trần Tất N;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2024.
V/v ly hôn giữa chị H
và anh N.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Ngọc;

2. Ông Nguyễn Hữu Tỉnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thu H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 18/199 đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Tất N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ và lời khai tiếp theo tại Toà án, chị Đào Thu H trình bày:

Chị và anh Trần Tất N tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một tháng thì phát sinh nhiều mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định vợ chồng kết hôn không hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn và không tiến hành hoà giải. Về con chung cũng như tài sản chung của vợ chồng không có. Hiện vì lý do công việc cá nhân, chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Anh Trần Tất N đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập nhiều lần nhưng không đến Toà án để giải quyết việc ly hôn nên không có lời khai cũng như tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Toà án. Sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án, anh N có mặt để tham gia tố tụng tại phiên toà.

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện ly hôn và lời khai chị Đào Thu H. Anh Trần Tất N xác nhận lời khai chị H là đúng; việc vợ chồng kết hôn là hoàn toàn tự nguyện; sau khi chung sống được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn căng thẳng do bất đồng quan điểm sống dẫn đến ly thân mỗi người một nơi; nay chị H đề nghị ly hôn anh hoàn toàn nhất trí; về con chung, tài sản chung cũng như công nợ vợ chồng không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đào Thu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đào Thu H và anh Trần Tất N trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên anh chị ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị H xác định hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị được ly hôn là có cơ sở để Toà án xem xét. Phía anh N xác nhận vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của chị H.

Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H để giải phóng khỏi sự ràng buộc của hôn nhân không hạnh phúc cho các bên là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với thực tế cũng như quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung: Chị H và anh N cùng xác nhận vợ chồng không có con chung.

Về quan hệ tài sản: Chị H và anh N cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung cũng như công nợ.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thu H đối với anh Trần Tất N;

Xử ly hôn giữa chị Đào Thu H và anh Trần Tất N.

2. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số: 0000543 ngày 04/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

3. Về quyền kháng cáo: Anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ