- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị H làm đơn xin ly hôn anh Lưu Tuấn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lưu Tuấn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày 26 - 01 - 2024 V/v ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Viết Chấn, bà Hoàng Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Vịnh – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 465/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 09 tháng 01 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: C N, tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lưu Tuấn V, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị H và anh Lưu Tuấn V tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05/3/2014 tại UBND thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng hay xảy ra cãi nhau. Anh V có quan hệ bất chính với người con gái khác. Đã nhiều lần vợ chồng ngồi nói chuyện để cố gắng vun đắp, hàn gắn tình cảm nhưng không được. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị H nhận thấy cuộc sống vợ chồng gặp nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, cuộc sống trở nên ngột ngạt, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài thêm được nữa. Vì vậy, chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Lưu Tuấn V.
Về con chung: có 01 con chung là cháu Lưu Diễm N, sinh ngày 05/10/2009. Từ khi sống ly thân đến nay chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N nên nguyện vọng của chị H sau khi ly hôn được nuôi dưỡng cháu cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Bị đơn anh Lưu Tuấn V: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.
Qua biên bản xác minh ngày 21/12/2023 về tình trạng hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Lưu Tuấn V thì Chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng chị H, anh V có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng thì được biết vợ chồng chị H, anh V sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Từ năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân, anh V1 đi làm thường xuyên ít khi có mặt ở nhà, hai vợ chồng có một con chung và hiện cháu đang sống cùng mẹ. Vợ chồng không yêu cầu hòa giải tại địa phương nên mâu thuẫn cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không biết.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của Pháp luật.
- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lưu Tuấn V. Về con chung: Giao cháu Lưu Diễm N, sinh ngày 05/10/2009 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Lưu Tuấn V có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lưu Tuấn V mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H với anh Lưu Tuấn V tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K vào ngày 05 tháng 3 năm 2014. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh V không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không khắc phục được. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Đối với anh Lưu Tuấn V mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. HĐXX xét thấy, tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lưu Tuấn V.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lưu Diễm N, sinh ngày 05/10/2009. Chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, HĐXX xét thấy, hiện nay cháu N đang chung sống cùng mẹ và có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Do đó, xét yêu cầu của chị H, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giao cháu N cho chị Bùi Thị H nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị H đều không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Lưu Tuấn V.
2. Về con chung: Giao cháu Lưu Diễm N, sinh ngày 05/10/2009 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Anh Lưu Tuấn V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2022/0003492 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
5. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - UBND thị trấn P, huyện K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đình Nam |