- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị D - Lê Văn Q"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Hoàng Công Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm- Thư ký TAND huyện Diễn Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sở thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/11/2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Trần Thị D, sinh năm 1998. Vắng mặt
Địa chỉ: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
2. Bị đơn: anh Lê Văn Quang, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Địa chỉ: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là chị Trần Thị D trình bày: Về hôn nhân: chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q kết hôn trên cơ sở hôn nhận tự nguyện có đăng ký kết hôn theo theo Giấy đăng ký kết hôn số 96 do UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 01/11/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Biểu hiện của mâu thuẫn là vợ chồng thường xuyên cãi vã, đôi khi còn xảy ra xô xát đánh đập nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống của vợ chồng đã không còn phù hợp, bất đồng về quan điểm sống, anh Q có biểu hiện nghiện ma túy nên xúc phạm, đánh đập chị nhiều lần. Chị vì con cái mà cố gắng nhiều lần nhưng cuộc sống chung của vợ chồng ngày càng nặng nề, tình cảm vợ chồng không cải thiện được, chị đã về bên ngoại sinh sống từ năm 2021, vợ chồng ly thân không quan tâm chăm sóc nhau từ nhiều năm nay. Nay chị Dần xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân là vợ chồng thương yêu chăm sóc lo lắng cho nhau, lo lắng làm ăn xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Nên tôi giữ nguyên yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Văn Q
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 và Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018. Ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh U và giao cháu K cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình chung sống vợ chồng không nhận con nuôi và cũng không ai có con riêng.
Về tài sản: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, tại Biên bản lấy lời khai trình bày: Về hôn nhân: thừa nhận thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn, tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nguyên đơn trình bày. Anh Q trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do chị đập con nên vợ chồng xảy ra cãi vã thậm chí xô xát lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi liên hệ từ đó đến nay. Anh Q cũng trình bày đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D.
Về con chung: Bị đơn công nhận quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Khánh U ngày 02/10/2014 và Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018. Ly hôn anh Q đồng ý giao cháu Khánh U cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu K cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình chung sống vợ chồng không nhận con nuôi và cũng không ai có con riêng.
Về tài sản: anh Lê Văn Q cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q; về nuôi con chung: giao cháu Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản: do các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: buộc chị Trần Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung; bị đơn hiện cư trú tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của BLTTDS. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai bị đơn trình bày đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q kết hôn trên cơ sở hôn nhận tự nguyện có đăng ký kết hôn theo Giấy đăng ký kết hôn số 96 do UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 01/11/2016 vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận bảo vệ. Các đương sự đều có đề nghị xét xử vắng mặt; lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn phù hợp về tính tình và quan điểm sống nên đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau từ mấy năm nay, đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị Trần Thị D yêu cầu tòa án xử cho được ly hôn anh Lê Văn anh Lê Văn Q đồng ý. Căn cứ lời khai của các đương sự, kết quả xác minh tại nơi cư trú cho thấy: mâu thuẫn vợ chồng của chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng thực tế không còn. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.
. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có lời khai thống nhất quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 và Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018. Hiện nay con đang do cả hai vợ chồng cùng chăm sóc nuôi dưỡng. Các đương sự đều có nguyện vọng giao cháu Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng trên của các đương sự là tự nguyện và chính đáng; phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận giao cháu Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho cho chị D và anh Q do không ai yêu cầu.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Bị đơn chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Thị Khánh U, ngày 02/10/2014 cho chị Trần Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Lê Nguyên K, sinh ngày 19/04/2018 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho cho chị Trần Thị D và anh Lê Văn Q
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí: chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai số 0010946 ngày 10/11/2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Diễn Châu; - Chi cục THADS huyện Diễn Châu; - UBND xã Diễn B (ĐKKH số 96 ngày 01/11/2016); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Nhung |