vanban.org

Bản án 06/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Kim T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

Về hôn nhân: Bà Cao Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về án phí: Bà Cao Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0006108 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C sang án phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Kim Truyến ly hôn Nguyễn Văn Hoàng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Kim T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Ngọc Mai;

2. Ông Huỳnh Tấn Cường;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 529/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Kim T, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp 6, xã P, huyện C, tỉnh Long An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Cao Thị Kim T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Bà T và ông H cưới nhau vào ngày 05/12/2004. Hôn nhân của vợ chồng bà là tự tìm hiểu, quen nhau được một thời gian. Vợ chồng bà có tiến hành đăng ký kết hôn nhân tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 129/2005, ngày 21/7/2005. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, không còn tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng bà đã sống riêng với nhau. Bà T không còn tình cảm vợ chồng với ông H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng 01 con chung, tên con chung tên Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 29/9/2005. Hiện nay cháu Q đã đủ 18 tuổi, bà T không có yêu cầu gì về con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn H. Ông H không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà T và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: bà Cao Thị Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại ấp 6, xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông H. Bà Cao Thị Kim T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: bà Cao Thị Kim T và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 129/2005, ngày 21/7/2005 nên xác định hôn nhân của vợ chồng bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, không còn tìm được tiếng nói chung. Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H. Còn về phía ông H, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho ông H, nhưng ông H không đến Tòa án tham gia hòa giải, không trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, không đưa ra phương án đoàn tụ. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông H không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 29/9/2005. Hiện nay cháu Q đã đủ 18 tuổi, nên bà T không có yêu cầu gì về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không có, ông H không có ý kiến gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Kim T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

Về hôn nhân: Bà Cao Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về án phí: Bà Cao Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0006108 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C sang án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ