- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Mai V được ly hôn với anh Đồng Bé H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày 05 -02- 2024 “V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Hoài và bà Trần Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt -Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công kH vụ án thụ lý số: 256/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐ-ST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Mai V, sinh năm 1984
Nơi ĐKHKTT: Số nhà A1, khu phố C, phường V, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Đồng Bé H, sinh năm 1987;
Nơi ĐKHKTT: Số nhà A1, khu phố C, phường V, thành phố R G, tỉnh Kiên
Giang.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
(Chị V có mặt tại phiên tòa, và anh Đồng Bé H vắng mặt tại phiên tòa lần 02 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Trần Mai V trình bày như sau:
Chị Mai V và anh Bé H chung sống với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang ngày 01/08/2013.
Vợ chồng chung sống đến 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã hàn gắn nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Chị V yêu cầu được ly hôn với anh Đồng Bé H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đồng Trần Quốc B, sinh ngày 22/6/2013 và Đồng Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2015, chị V yêu cầu được nuôi 02 người con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bị đơn anh Đồng Bé H có ý kiến: Anh Bé H thống nhất với lời trình bày của anh chị Mai V về thời gian chung sống, làm đám cưới và có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn gia đình, con chung, mâu thuẫn gia đình bắt đầu từ 2021 đến nay.
Nay đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì anh có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Không đồng ý ly hôn với chị Trần Mai V, xin được đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đồng Trần Quốc B, sinh ngày 22/6/2013 và Đồng Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2015, trường hợp ly hôn anh có nguyện vọng xin nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và không có ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Bé H vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định.Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho chị V được ly hôn với anh Bé H; Về con chung: Giao cháu Đồng Trần Quốc B, sinh ngày 22/6/2013 và Đồng Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2015 (Theo nguyện vọng cháu Bảo và Ngọc) cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị V không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Về nội dung vụ án: Chị V yêu cầu được ly hôn với anh H và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn, nuôi con chung”.
Chị V kết hôn với anh H trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Thứ Ba, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang ngày 01/08/2013 nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hòa giải để tạo điều kiện cho chị V và anh Bé H hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Mai V vẫn kiên quyết ly hôn với anh Bé H, tại phiên tòa chị Mai V xác định chị không còn tình cảm với anh Bé H, vợ chồng anh chị đã tự ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau trong cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Trần Mai V được ly hôn với anh Đồng Bé H.
Về con chung: Chị V và anh H xác định vợ chồng có 02 người con chung tên Đồng Trần Quốc B, sinh ngày 22/6/2013 và Đồng Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2015. Cháu Bảo và cháu Ngọc đều có nguyện vọng được sống với mẹ là chị Mai V. Chị Mai V có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bảo và cháu Ngọc. Nhằm đảm bảo cho sự phát triển ổn định của trẻ và theo nguyện vọng của 02 cháu, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Đồng Trần Quốc B và Đồng Trần Bảo N cho chị Mai V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị V xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị V có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Mai V được ly hôn với anh Đồng Bé H.
2. Về con chung: Giao cháu Đồng Trần Quốc B, sinh ngày 22/6/2013 và Đồng Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2015 (Theo nguyện vọng của cháu B và cháu N) cho chị Mai V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Mai V về việc không yêu cầu anh Bé H cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản, tuy nhiên anh Bé H không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị Mai V xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Mai V có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0008979 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị V đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công kH, chị Mai V có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Đồng Bé H vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS huyện An Biên; - VKSND huyện An Biên; - Các đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn (V). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Thị Gấm |