vanban.org

Bản án 06/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 24/07/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định hành chính gồm:

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC701110 của UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, đối với phần xác nhận trên trang 4 về việc xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017. 2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốCU 330743 của Sở Tài nguyên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Văn N khởi kiện Quyết định hành chính và hành vi hành chính của sở TN và MT tỉnh NĐ"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định hành chính gồm:
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật SĐBS; luật Chấp hành viên; Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT Quy định về hồ sơ địa chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HC-ST
Ngày: 24/7/2024
Khiếu kiện: Quyết định hành
chính, hành vi hành chính trong
lĩnh vực quản lý nhà nước
về đất đai.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hà N

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Viết T

Ông Trần Trọng Đ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng N - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ntham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh T - Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 11/2023/TLST-HC ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HCngày 10/6/2024;Quyết định hoãn phiên toà số 57/2024/QĐST-HC ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:

* Ngƣời khởi kiện: Ông Trần Văn N

Đăng ký thường trú: Số 29, đường 5, Nghĩa Dũng, phường P, quận B, thành phố H.

Địa chỉ liên hệ: 353 đường Thái Bình, phường L, thành phố N, tỉnh N.

* Ngƣời bị kiện:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N

Địa chỉ: Số 1A Trần Tế Xương, phường P, thành phố N, tỉnh N.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn S - Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Trung K- Phó Giám đốc

(Văn bản ủy quyền số 21/UQ-STNMT ngày 03/01/2024)

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N;

Địa chỉ: Số 1A Trần Tế Xương, phường P, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Đại T - Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Quốc H- Phó Giám đốc;

(Văn bản ủy quyền số 46/UQ-VPĐK ngày 15/01/2024).

2. Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Trung K- Phó Giám đốc;

(Văn bản ủy quyền số 2604/UQ-STNMT ngày 25/6/2024).

3. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N

Địa chỉ: Số 10 Trần Đăng Ninh, phường B, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện Chi nhánh: Ông Hoàng T- Giám đốc.

4. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N

Địa chỉ: Số 1 Đào Duy Từ, phường T, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Đăng B- Chi cục trưởng;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị NgọcT-Chấp hành viên trung cấp;

(Văn bản ủy quyền số 81/VBUQ-THADS ngày 08/12/2023).

5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu

Địa chỉ: Số 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P- Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hà T - Giám đốc xử lý nợ và ông Trần Đăng H - Chuyên viên xử lý nợ;

(Văn bản ủy quyền số 149/UQ-QLN.24 ngày 24/01/2024).

6. Phòng Công chứng số 1 thuộc Sở Tư pháp tỉnh N

Địa chỉ: Số 325 đường Trường Chinh, phường Q, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo pháp luật:Bà Phan Thanh H- Trưởng phòng;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thanh V- Chuyên viên;

(Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2024).

7. Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố N: Địa chỉ: Số 160 phố Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức H- Chủ tịch UBND phường Q;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T- Phó Chủ tịch UBNDphường Q.

8. Bà Nguyễn Thị B

Địa chỉ trước khi xuất cảnh:Số 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N;

Địa chỉ hiện nay: Otto - Waltherstr.3

01796 Pirna -Cộng hoà liên bang Đ;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tiến T;

Địa chỉ: Số 51 Phạm Hồng Thái, phường B, thành phố N, tỉnh N;

(Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2024).

9. Công ty trách nhiệm hữu hạnT

Địa chỉ cũ: Số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N;

Địa chỉ liên hệ: Ông Trần Thanh T, số 7/27/49 đường Trần Phú, phường T, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn N- Giám đốc.

10.Bà Trần Thị K(là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập)

Đăng ký thường trú: Số 36K, Ô 18, phường H, thành phố N, tỉnh N;

Địa chỉ liên hệ: Số 166 đường Thái Bình, phường T, thành phố N, tỉnh N;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị B;

Địa chỉ: 29Q, Ô 18, phường H, TP N, tỉnh N;

(Văn bản ủy quyền ngày 05/4/2024).

Tại phiên tòa: Có mặt ông N, bà K, bà B, ông T, ông T, ông T. Vắng mặt ông K, ông H, ông T, bà T, bà V các đương sự này đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung,đơn trình bày và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Trần Văn N trình bày:

Năm 2012, ông và bà Trần Thị K thếchấp 03 quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N (viết tắt là số nhà 51 Hàng Tiện) và 01 quyền sử dụng đất tại xóm G xã M thành phố N để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH T (viết tắt là Công ty T) tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu chi nhánh N (viết tắt làNgân hàng Á Châu). Do Công ty T gặp khó khăn và không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Á Châuđã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố N để yêu cầu Công ty T trả nợ. Tại Toà án, Công ty T và Ngân hàng Á Châuđã thoả thuận và được Tòa án ra Quyết định công nhận sự thoả thuận vào ngày 04/5/2015.Năm 2016, bà K đã bỏ tiền giải chấp 01 quyền sử dụng đất tại xóm G xã M thành phố N. Sau đóNgân hàng Á Châuđã yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sựthành phố N (viết tắt là Chi cục THADS) thi hành một phần Quyết định của Tòa án.Chi cục THADS ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 06/QĐ-CCTHADS ngày 09/11/2016 thì Công ty T là người phải thi hành án. Các tài sản phải thi hành án là:Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC701110do Uỷ ban nhân dân thành phố N cấp ngày12/7/2005, diện tích 44,5 m² trong đó diện tích chung 23,4 m², diện tích riêng 21,1 m² đứng tên Trần Văn N ngày 12/5/2010 tại số 51 Hàng Tiện(viết tắt là GCNQSDĐ số AC701110); GCNQSDĐ số AK894879 do Uỷ ban nhân dân thành phố N, tỉnh N cấp ngày 05/11/2007, diện tích 65,86m²trong đó diện tích chung 45,08m² diện tích riêng 20,78 m² đứng tên Trần Văn N ngày 12/5/2010 tại 51 Hàng Tiện(viết tắt là GCNQSDĐ sốAK894879); GCNQSDĐ số AO332922do Uỷ ban nhân dân thành phố N cấp ngày18/02/2009, diện tích 61,4m² trong đó diện tích chung 38,8 m² diện tích riêng 22,6 m² đứng tên Trần Văn N ngày 12/5/2010 tại 51 Hàng Tiện(viết tắt là GCNQSDĐ sốAO332922). Ngày 24/11/2016, Chấp hành viên Chi cục THADS lập Biên bản về việc xác minh điều kiện thi hành án. Ngày 22/12/2016, Chấp hành viênChi cục THADSra Thông báo về kết quả thẩm định giá tài sản số 71/TB-THADS.Ngày 22/05/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS ra Thông báo số 161/TB-THADSvề việc bán đấu giá không thành lần 3. Ngày 23/5/2017, Ngân hàng Á Châucó đơn đề nghị về việc nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, nhưng không nêu rõ giá trị tài sản trừ vào tiền thi hành án. Ngày 30/6/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS ra Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS.Ngày 10/7/2017, bà K có đơn đăng ký mua tài sản với giá thị trường là 4.200.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng).Ngày 17/7/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS lập Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án với Ngân hàng Á Châuvới nội dung: “Ngân hàng Á Châukhông đồng ý với đơn đăng ký mua tài sản của bà K. Đề nghị Chi cục THADS xử lý theo quy định của pháp luật”. Ngày 11/8/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS ra Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS với nội dung: “Bằng biện pháp: Giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất tại số 51 Hàng Tiệncho Ngân hàng Á Châu.Tài sản gồm:Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện theo các GCNQSDĐ số AK 894879 vàGCNQSDĐ số AO 332922 mà chưa có Thông báo cưỡng chế đối với GCNQSDĐ số AC701110. Ngày 29/8/2017, Chi cục THADS có công văn số 132/CV-CCTHADS gửi Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N về việc cấp GCNQSDĐ cho Ngân hàng Á Châudo nhận tài sản cần trừ nợ tại thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, và thửa thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại số 51 Hàng Tiện.Ngày 21/9/2017, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N có công văn số 2499/STNMT-VPĐK với nội dung:"Đề đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng Á Châukhi việc phát mại quyền sử dụng đất chưa thành, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N (viết tắt là Chi nhánh VPĐKĐĐ) thực hiện xác nhận trên trang 4 GCN đã cấp; Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định xử lý tài sản đảm bảo là bất động sản, Ngân hàng Á Châu tiếp tục thực hiện việc phát mại quyền sử dụng đất và thực hiện cấp đổi GCNQSDĐ theo quy định.Việc cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện sau khi đã phát mại tài sản hoàn thành”. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên Chi cục THADS đã có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án. Ngày 02/5/2019, Cục THADS tỉnh N đã ra Quyết định số 59/QĐ-CTHADS xử lý kỷ luật công chức THADS với các hình thức:Kỷ luật khiển trách đối với Chấp hành viên trung cấp Chi cục THADS với lý do vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án và phê bình trong cơ quan, phê bình trong toàn ngành đối với một số cá nhân khác.Ông N cho rằng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N đã căn cứ hồ sơ thi hành án vi phạm các quy định của pháp luật để xác nhận trên trang 4 GCNQSDĐsố AC 701110 từ tên ông chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục THADS và sau đó tiến hành việc cấp đổi GCNQSDĐ là trái quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngày 02/11/2017, bà K có đơn đề nghị về việc sang tên đổi chủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi UBND thành phố N, Phòng Tài nguyên và môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N.Đồng thời, bà K có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn với ôngN tại Tòa án, trong đó có tài sản là GCNQSDĐ số AC 701110. Trong vụ án này, Ngân hàng Á Châulà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tài sản đang tranh chấp và đang được Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm thì ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châuđã chuyển nhượng quyền sử dụng đất GCNQSDĐ số AC 701110 cho bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972, trú tại 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N. Với lý do nêu trên thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đấtgiữa Ngân hàng Á Châu và bà Nguyễn Thị Btại Phòng công chứng số 01 tỉnh N, số công chứng 315, quyển số 19/TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu. Mặt khác, cho đến nay ông và bà K chưa tự nguyện bàn giao tài sản và ông cũng không được tống đạt Thông báo cưỡng chế thi hành án đối với tài sản là GCNQSDĐ số AC 701110. Sau khi có Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh N giải quyết tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn giữa ôngN và bàK thì ông mới biết được việc xác nhận biến động, ngày 29/10/2020 ông đã có đơn khiếu nại đến sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N và tiếp tục có đơn khiếu nại đến lần thứ 10 nhưng vẫn không được giải quyết. Thời điểm ông biết GCNQSDĐ số AC 701110 được chuyển quyền cho bà B vào khoảng cuối năm 2022.

Nay ông yêu cầu Tòa án:Tuyên bố Hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc đăng ký biến động chuyển đổi quyền sử dụng GCNQSDĐsố AC 701110 được UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, có đăng ký biến động thay đổi chủ sở hữu sang tên Trần Văn N được Phòng tài nguyên và môi trường xác nhận ngày 12/5/2010, diện tích 44,5 m² (sử dụng chung: 23,4 m², sử dụng riêng 21,1 m², chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP Á Châu ngày 10/11/2017 theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N là hành vi hành chính trái pháp luật; Hủy GCNQSDĐsố AC 701110 được UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, phần xác nhận trên trang 4, chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu ngày10/11/2017; Hủy GCNQSDĐsố CU 330743 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B.

Về quan điểm của ông đối với các yêu cầu độc lập của bà K: Các yêu cầu độc lập của bà K như đã trình bày trong đơn là có cơ sở pháp lý. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật.

Tại các Văn bản giải trình và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, các Văn bản ý kiến bổ sung, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N trình bày:

Hộ ông Phạm Anh T, bà Nguyễn Thị L được UBND thành phố N cấp GCNQSD đất số AC 701110 ngày 12/7/2005, với diện tích 44,5 m² (sử dụng riêng: 21,1m², sử dụng chung: 23,4m²) tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N. Năm 2010, ông T, bà L chuyển nhượng cho ông Trần Văn N, được Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N xác nhận tại trang 4 GCNQSDĐ. Hộ ông Trần Mạnh D, bà Đặng Thị Kim D được UBND thành phố N cấp GCNQSDĐ số AK 894879 ngày 05/11/2007 với diện tích 65,86 m² (sử dụng riêng 20,78 m² và sử dụng chung 45,08 m²), tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 diện tích 15 m² và GCNQSDĐ số AO 332922 ngày 18/02/2009 diện tích 61,4 m² (sử dụng riêng 22,6 m² và sử dụng chung 38,8 m²), tài sản gắn liền với đất là TNền diện tích 20 m² tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N. Năm 2010, ông D và bà Dung chuyển nhượng cho ông Trần Văn N, được Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N xác nhận tại trang 4 GCNQSDĐ.Ngày 05/01/2012, ông Trần Văn N làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản đăng ký trong GCNQSDĐ với Ngân hàng Á Châu cho Công ty T và được Ngân hàng cấp tín dụng theo Hợp đồng thế chấp số: NAD.BĐDN.01040112; Văn phòng Đăng ký và thông tin nhà đất thành phố N đã xác nhận đăng ký thế chấp trên trang 4 các GCNQSDĐ. Do Công ty T không trả được khoản nợ vay tại Ngân hàng Á Châu; ngày 09/11/2016, Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án với nội dung: “Ngân hàng Á Châu đề nghị Chi cục THADS phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N theo Hợp đồng thế chấp số NAD BĐDN.01040112/PL-01 và cam kết thế chấp ngày 05/01/2012 của ông và bà K để thu hồi nợ”.Ngày 09/11/2016, Chi cục THADS ra Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án đối với Công ty T. Ngày 01/12/2016, Chi cục THADS ra Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ông N và bà K, địa chỉ tại số 51 Hàng Tiện là tài sản thế chấp cho khoản vay của Công ty T để đảm bảo thi hành án; đồng thời có Thông báo số 45/TB-THADS về việc cưỡng chế thi hành án gửi các đương sự. Ngày 09/12/2016, Chi cục THADS, Chi nhánh VPĐKĐĐvà Phòng Quản lý nhà thuộc sở hữu Nhà nước, Công ty cổ phần công trình đô thị N cùng với Ngân hàng Á Châulập biên bản về việc kê biên, xử lý tài sản (ông N và bà K đã được thông báo nhưng vắng mặt không có lý do). Ngày 22/12/2016, Chi cục THADS có Thông báo số 71/TB-THADS về kết quả thẩm định giá tài sản đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị nhà tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 29/12/2016, chấp hành viên ký Hợp đồng bán đấu giá số 02/2016/HĐ-ĐGXV với Công ty CP dịch vụ đấu giá X; tài sản bán đấu giá là giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 20/5/2017, Công ty Cổ phần dịch vụ đấu giá X có thông báo tới Chi cục THADS và chấp hành viên về việc bán đấu giá nhà 51 phố Hàng Tiện lần thứ 3 đã không thành vì không có khách hàng mua và nộp hồ sơ tham gia đấu giá. Do việc bán đấu giá không thành; ngày 23/5/2017 Ngân hàng Á Châucó đơn đề nghị được nhận lại tài sản là “toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thừa N; thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện. Với lý do để trừ vào số tiền được thi hành án”. Ngày 23/5/2017 Chi cục THADS có Thông báo số 164/TB-THADS gửi ông Trần Văn N về việc Ngân hàng Á Châuđồng ý nhận các tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án; tài sản gồm: “Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện”. Ngày 30/6/2017, Chi cục THADS ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 11/8/2017, Chi cục THADS ra Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất; cụ thể: Cưỡng chế thi hành án đối với ông N và bà K, địa chỉ số 51 Hàng Tiện là người có tài sản thế chấp ngân hàng cho khoản vay của Công ty T; Giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất tại số 51 Hàng Tiện cho Ngân hàng Á Châu.., tài sản gồm: “Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện theo các GCNQSD đất...”. Ngày 22/8/2017, Chi cục THADS cùng đại diện các cơ quan liên quan thực hiện cưỡng chế bàn giao tài sản; bàn giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu(ông N và bà K vắng mặt không có lý do chính đáng).Sau khi nhận bàn giao tài sản từ Chi cục THADS, ngày 05/10/2017, Ngân hàng Á Châucó đơn đề nghị Chi nhánh VPĐKĐĐ xác nhận biến động trang 4 GCNQSD đất số AC 710110; số AK 894879; số AO 332922. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ xác nhận trang 4 GCNQSDĐ số AC 710110; GCNQSDĐ số AK 894879; GCNQSDĐ số AO 332922 với nội dung: Chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục THADS. Việc Chi nhánh VPĐKĐĐ xác nhận trên trang 4 các GCNQSDĐ là đúng quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì VPĐKĐĐ, Chi nhánh VPĐKĐĐ có thẩm quyền xác nhận biến động vào GCNQSDĐ đã cấp. Vì vậy, ông N, bà K khiếu kiện hành vi xác nhận biến độngtrên trang 4 các GCNQSDĐ đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N là không đúng quy định của pháp luật.

Về việc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ số CU 330743; số CU 330744; số CU 330699 cho bà Nguyễn Thị B ngày 26/8/2020:

Ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châulập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, địa chỉ số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N cho bà Nguyễn Thị B. Thành phần hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ gồm:

Bản gốc các GCNQSD đất số AC 710110; số AK 894879; số AO 332922; Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 20/01/2020; Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị B ngày 22/01/2020;Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ngân hàng Á Châuvà bà Nguyễn Thị B ngày 22/01/2020 được Phòng Công chứng số 1 tỉnh N công chứng; Số công chứng số 315, 316, 317 quyền số 19TP/CC-SCC/HDGD. Trên cơ sở hồ sơ, tài liệu có liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp GCNQSDĐ số CU 330743; số CU 330744; số CU 330699 cho bà Nguyễn Thị B ngày 26/8/2020 theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K.Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị B, Sở Tài nguyên và Môi trường không nhận được bất kỳ văn bản nào liên quan đến việc tạm dừng giao dịch đối với nhà đất tại số 51 Hàng Tiện.Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Tòa án báctoàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K.

Quan điểm đôi với Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK trả lời khiếu nại của ông N: Ngày30/10/2020Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nhận được Đơn khiếu nạiđề ngày 29/10/2020 của ông Trần Văn N có nội dung: Khiếu nại về việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AC701110 ngày 10/11/2017 cho Ngân hàng Á Châu là trái pháp luật. Ngoài ra đơn còn phản ánh việc ông N đã gửi đơn khiếu nại đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N nhưng chưa được xem xét thụ lý giải quyết khiếu nại trong thời hạn luật định.Thấy rằng đây vụ việc có tính chất phức tạp từ giai đoạn tổ chức thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N đến việc giao nhận tài sản để trừ vào số tiền phải thi hành án. Sở Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu tài liệu, hồ sơ vụ việc do Chi nhánhVăn phòng đăng ký đất đai thành phố N cung cấp. Ngày 02/12/2020Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK trả lời khiếu nại của ông N với nội dung:Việc khiếu nại của ông Trần Văn N là không có căn cứ.Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố N xác nhận biến độngtrang 4 GCNQSDĐ số AC701110 ngày 10/11/2017 là đúng quy định.

Tại Văn bản giải trình và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh N trình bày:

- Hộ ông Phạm Anh T, bà Nguyễn Thị L được UBND thành phố N cấp GCNQSD đất số AC 701110 ngày 12/7/2005, diện tích 44,5 m² (sử dụng riêng: 21,1m², sử dụng chung: 23,4m²) tại số nhà 51 Hàng Tiện. Năm 2010, ông T, bà L chuyển nhượng cho ông Trần Văn N toàn bộ diện tích đất nói trên và được Phòng Tài nguyên và Môi trường xác nhận tại trang 4 GCNQSD ngày 12/5/2010.Hộ ông Trần Mạnh D, bà Đặng Thị Kim D được UBND thành phố N cấp GCNQSD đất số AK 894879 ngày 05/11/2007 diện tích 65,86m² (sử dụng riêng 20,78m² và sử dụng chung 45,08m²), tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 diện tích 15 m² và GCNQSD đất số AO 332922 ngày 18/02/2009 diện tích 61,4m² (sử dụng riêng 22,6m² và sử dụng chung 38,8m²), tài sản gắn liền với đất là TNền diện tích 20m² tại số nhà 51 Hàng Tiện. Năm 2010, ông D và bà D chuyển nhượng cho ông Trần Văn N toàn bộ diện tích 02 thửa đất nói trên, được Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N xác nhận tại trang 4 GCNQSD đất.Ngày 05/01/2012, ông Trần Văn N làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản đăng ký trong GCN với Ngân hàng TMCP Á Châu bảo đảm cho khoản vay của Công ty T và được Ngân hàng cấp tín dụng theo Hợp đồng thế chấp số: NADBĐDN.01040112; được Văn phòng Đăng ký và thông tin nhà đất thành phố N xác nhận đăng ký thế chấp trên trang 4 các GCNQSD số AC 701110; số AK 894879; số AO 332922.Do Công ty T không trả được khoản nợ vay tại Ngân hàng Á Châu, ngày 09/11/2016, Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án với nội dung: “Ngân hàng Á Châu đề nghị Chi cục THADS phát mãi tài sản bảo đảm làquyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K tại số 51 Hàng Tiện theo hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.01040112/PL-01 ngày 11/5/2012 và cam kết thế chấp ngày 05/01/2012 của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K để thu hồi nợ”.Ngày 09/11/2016, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N có Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS(DS) về việc thi hành án đối với Công ty TNHH T. Ngày 01/12/2016, Chi cục THADS ra Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K, địa chỉ tại số 51 Hàng Tiện là tài sản thế chấp cho khoản vay của Công ty T để đảm bảo thi hành án, đồng thời có Thông báo số 45/TB-THADS về việc cưỡng chế thi hành án gửi các đương sự. Ngày 09/12/2016, Chi cục THADS, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N và Phòng Quản lý nhà thuộc sở hữu Nhà nước, Công ty cổ phần công trình đô thị N cùng với Ngân hàng Á Châu lập biên bản về việc kê biên, xử lý tài sản (ông Trần Văn N và bà Trần Thị K đã được thông báo nhưng vắng mặt không có lý do). Ngày 22/12/2016, Chi cục THADS có Thông báo số 71/TB-THADS về kết quả thẩm định giá tài sản đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị nhà tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 29/12/2016, chấp hành viên ký Hợp đồng bán đấu giá số 02/2016/HĐ-ĐGXV với Công ty CP dịch vụ đấu giá X; tài sản bán đấu giá là giá trị QSD đất và công trình xây dựng trên đất tại số 51 Hàng Tiện.Ngày 20/5/2017, Công ty Cổ phần dịch vụ đấu giá X có thông báo tới Chi cục THADS và chấp hành viên về việc bán đấu giá nhà 51 phố Hàng Tiện lần thứ 3 nhưng không thành vì không có khách hàng mua và nộp hồ sơ tham gia đấu giá. Do việc bán đấu giá nhà tại số 51 Hàng Tiện không thành; ngày 23/5/2017 Ngân hàng Á Châu có đơn gửi Chi cục THADS đề nghị được nhận lại tài sản là “toàn bộ nG nhà 3 tầng và QSD đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện, với lý do: để trừ vào số tiền được thi hành án”.Ngày 23/5/2017 Chi cục THADS có Thông báo số 164/TB-THADS gửi đương sự về việc Ngân hàng Á Châu đồng ý nhận các tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án; tài sản gồm: “Toàn bộ nG nhà 3 tầng và QSD đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 30/6/2017, Chi cục THADScó Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 11/8/2017, Chi cục THADScó Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển QSD đất; cụ thể: Cưỡng chế thi hành án đối với ông Trần Văn N và bà Trần Thị K, địa chỉ số 51 Hàng Tiện là người có tài sản thế chấp ngân hàng cho khoản vay của Công ty T; Giao nhà, chuyển QSD đất tại số 51 Hàng Tiện cho Ngân hàng phần Á Châu, tài sản gồm: “Toàn bộ nG nhà 3 tầng và QSD đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại số 51 Hàng Tiện, theo các GCNQSD đất...”. Ngày 22/8/2017, Chi cục THADScùng đại diện các cơ quan liên quan thực hiện cưỡng chế bàn giao tài sản; bàn giao tài sản cho Ngân hàng thương Á Châu (ông Trần Văn N và bà Trần Thị K vắng mặt không có lý do chính đáng). Sau khi nhận bàn giao tài sản từ Chi cục THADS, ngày 05/10/2017 Ngân hàng Á Châu có đơn đề nghị Chi nhánh VPĐKĐĐ xác nhận biến động trang 4 cácGCNQSDĐ số AC 701110; số AK 894879; số AO 332922.Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N xác nhận trang 4 GCNQSD số AC 701110; số AK 894879; số AO 332922, với nội dung: Chuyển QSD đất cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N. Ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châu chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị B; Hợp đồng chuyển nhượng được Phòng Công chứng số 1 tỉnh N công chứng; Số công chứng số 315, quyển số 19TP/CC-SCC/HĐGD. Trên cơ sở hồ sơ, tài liệu có liên quan và quy định của pháp luật; ngày 26/8/2020 Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CU 330743; số CU 330744; số CU 330699 cho bà Nguyễn Thị Blà đúng quy định.Văn phòng Đăng ký đất đai không nhận bất kỳ văn bản nào yêu cầu đề nghị tạm dừng giao dịch nhà đất về việc không sang tên đổi chủ đối với nhà đất số 51 Hàng Tiện, phường Q, TP N. Do vậy, đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại các Văn bản cung cấp tài liệu và thông tin và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N trình bày:

Ông Phạm Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Lan được UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 701110 diện tích 44,5m² (sử dụng riêng: 21,1m²; sử dụng chung: 23,4m²) tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, TP N. Năm 2010, ông Tuấn, bà Lan chuyển nhượng cho ông Trần Văn N toàn bộ diện tích đất nói trên, được phòng Tài nguyên và Môi trường xác nhận tại trang 4 GCNQSDĐ số AC 701110 ngày 12/5/2010. Ông Trần Mạnh Dvà bà Đặng Thị Kim D được UBND thành phố N cấp GCNQSDĐ số AO 332922 diện tích 61.4m² (sử dụng riêng: 22.6m²; sử dụng chung: 38.8m²; GCNQSDĐ số AK 894879 diện tích 65.86 m² (sử dụng riêng: 20.78 m²; sử dụng chung: 45.08 m²) cùng số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, TP N. Năm 2010, ông D, bà D chuyển nhượng cho ông Trần Văn N toàn bộ diện tích nhà đất nói trên, được phòng Tài nguyên và Môi trường xác nhận tại trang 4 GCNQSDĐ số AO 332922; số AK 894879 ngày 12/5/2010. Ngày 05/01/2012 ông Trần Văn N và bà Trần Thị K đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản đăng ký trong GCNQSDĐ với Ngân hàng Á Châu để bảo đảm cho khoản vay của Công ty Tdo ông Trần Văn N làm giám đốc và được Ngân hàng cấp tín dụng theo hợp đồng thế chấp số NAD.BDDN.01040112 ngày 05/01/2012. Do Công ty T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Á Châu đã khởi kiện vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Tòa án. Ngày 04/6/2015 Toà án nhân dân thành phố N có quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 07/2015/QDST-KDTM và quyết định sửa chữa bổ sung số 01/2016/QĐ-SCBA ngày 07/11/2016.Ngày 09/11/2016 Ngân hàng Á Châu có đơn yêu cầu thi hành án để thu hồi nợ. Ngày 09/11/2016 Chi cục THADS ra Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án đối với Công ty T.Ngày 01/12/2016, Chi cục THADS có Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ông N và bà K, địa chỉ tại số 51 Hàng Tiện là tài sản thế chấp cho khoản vay của Công ty T để đảm bảo thi hành án, đồng thời có Thông báo số 45/TB-THADS về việc cưỡng chế thi hành án gửi các đương sự. Ngày 09/12/2016, Chi cục THADS, Chi nhánh VPĐKĐĐ và Phòng Quản lý nhà thuộc sở hữu Nhà nước, Công ty Cổ phần Công trình đô thị N cùng với Ngân hàng Á Châu lập biên bản về việc kê biên, xử lý tài sản (Ông N và bà K đã được thông báo nhưng vắng mặt không có lý do). Ngày 22/12/2016, Chi cục THADS ra Thông báo số 71/TB-THADS về kết quả thẩm định giá tài sản đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị nhà tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 20/5/2017, Công ty Cổ phần dịch vụ đấu giá X có thông báo tới Chi cục THADS và chấp hành viên về việc bán đấu giá nhà 51 Hàng Tiện lần thứ 3 không thành vì không có khách hàng mua và nộp hồ sơ tham gia đấu giá. Do việc bán đấu giá nhà tại số 51 Hàng Tiện không thành, ngày 23/5/2017 Ngân hàng Á Châu có đơn gửi Chi cục THADS đề nghị được nhận lại tài sản là toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128.18m² tại số 51 Hàng Tiện, với lý do: để trừ vào số tiền được thi hành án. Ngày 23/5/2017 Chi cục THADS có Thông báo số 164/TB-THADS gửi đương sự về việc Ngân hàng Á Châu đồng ý nhận các tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án; tài sản gồm: Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128.18 m² tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 30/6/2017, Chi cục thi hành án dân sự thành phố N có Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 11/8/2017, Chi cục THADS có Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất; cụ thể: Cưỡng chế thi hành án đối với ông Trần Văn N và bà Trần Thị K, địa chỉ số 51 Hàng Tiện là người có tài sản thế chấp ngân hàng cho khoản vay của Công ty T. Giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất tại số 51 Hàng Tiện, phường Q cho Ngân hàng Á Châu, tài sản gồm: Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128.18 m² tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N theo các GCNQSDĐ. Ngày 22/8/2017, Chi cục THADS cùng đại diện các cơ quan liên quan thực hiện cưỡng chế bàn giao tài sản; bàn giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu. Ngày 29/8/2017, Chi cục THADS có văn bản số 132/CV-CCTHADS gửi Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N về việc cấp GCNQSDĐ cho ngân hàng Á Châu. Ngày 21/9/2017, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N có văn bản số 2499/STNMT-VPĐK gửi Chi cục THADS về việc cấp GCNQSDĐ cho ngân hàng Á Châu.Ngày 06/10/2017 Ngân hàng Á Châu nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất đối với toàn bộ nhà và đất tại số nhà 51 Hàng Tiện theo Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động quyền sử dụng đất cho ngân hàng Á Châu trên trang 4GCNQSDĐ số AC 701110; số AO 332922; số AK 894879. Ngày 16/4/2020 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ngân hàng Á Châu tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N theo GCNQSDĐ số AC 701110; số AO 332922; số AK 894879. Ngày 26/8/2020 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N ký cấpGCNQSDĐ số CU 330743; số CU 330744; số CU 330699 cho bà Nguyễn Thị B. Việc Chi nhánh VPĐKĐĐ xác nhận biến động trang 4 chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N để trừ vào số tiền được thi hành án là đúng theo quy định pháp luật.Trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ sang tên GCNQSDĐcho hộ bà Nguyễn Thị B, Chi nhánh VPĐKĐĐ không nhận được bất kỳ văn bản thông báo ngăn chặn nào của các cơ quan có thẩm quyền và cũng không nhận được đơn thư đề nghị không dịch chuyển quyền tài sản nào đối với thửa đất theo GCNQSDĐsố AC 701110; số AO 332922; số AK 894879. Do vậy, Chi nhánh VPĐKĐĐ đề nghị Toà án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại cácVăn bản trả lời và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án,Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ntrình bày:

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng Á Châu đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2015/QĐST-KDTM ngày 04/6/2015 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 01/2016/QĐ-SCBA ngày 07/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N. Chi cụcTHADS đã ra Quyết định thi hành án số 06/QĐ-CCTHADS ngày 09/11/2016 cho thi hành đối với người phải thi hành án là Công ty T. Công ty T phải trả cho Ngân hàng Á Châu toàn bộ các khoản tiền nợ theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký là: 8.792.295.741 đồng (Tám tỷ, bảy trăm chín mươi hai triệu, hai trăm chín mươi lăm nghìn, bảy trăm bốn mươi mốt đồng). Nếu Công ty T không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng Á Châu, Chi cục THADS sẽ phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, đó là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K là tài sản chung của vợ chồng đã thế chấp với Ngân hàng Á Châutheo hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.01040112 ngày 05/01/2012, Phụ lục hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.01040112/PL-01 ngày 11/5/2012 và Cam kết thế chấp ngày 05/01/2012 của ông Trần Văn N và bà Trần Thị K với Ngân hàng Á Châu.Sau khi nhận hồ sơ Chấp hành viên đã thực hiện việc thông báo, tống đạt quyết định thi hành án cho các đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và yêu cầu Công ty T tự nguyện thi hành án. Hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng Công ty vẫn không tự nguyện thi hành mặc dù đã được động viên, thuyết phục. Sau khi tiến hành khảo sát hiện trạng tài sản thế chấp, ngày 09/12/2016 Chi cục THADS đã tiến hành kê biên, xử lý tài sản của ông N và bà K, tại số nhà 51 Hàng Tiện là tài sản thế chấp ngân hàng cho khoản vay của Công ty T để đảm bảo thi hành án.Tài sản kê biên, xử lý gồm: Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N theo các GCNQSDĐ số AK 894879 do UBND thành phố N cấp ngày 05/11/2007; GCNQSDĐ số AO 332922 do UBND thành phố N cấp ngày 18/02/2009; GCNQSDĐ số AC 701110 do UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005.Sau hai lần giảm giá và 3 lần bán đấu giá tài sản không thành, ngày 23/5/2017 Ngân hàng Á Châu có đơn đề nghị nhận tài sản với giá đã định là 5.331.855.620 đồng để trừ vào tiền thi hành án. Căn cứ khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự Chi cục đã ra Thông báo số 164/TB-THADS ngày 23/5/2017 thông báo cho người phải thi hành án, người có tài sản đảm bảo và ấn định 30 ngày để người phải thi hành án nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí để lấy lại tài sản.Hết thời hạn 30 ngày, người phải thi hành án, người có tài sản đảm bảo không có ý kiến về việc nhận lại tài sản căn cứ Điều 104 Luật Thi hành án dân sự Chi cục đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châuvà tiến hành các thủ tục thu phí thi hành án, các chi phí theo quy định của pháp luật. Chi cục đã ra thông báo số 192/TB-THADS ngày 03/7/2017 về việc chuyển tài sản và ấn định thời hạn cho người có tài sản đảm bảo là ông Trần Văn N và bà Trần Thị K có trách nhiệm chuyển toàn bộ tài sản ra khỏi nhà số 51 Hàng Tiện trước khi bàn giao nhà cho bên được thi hành án. Mặc dù, đã được thông báo hợp lệ nhưng ông N, bà K cố tình vắng mặt không giao tài sản, nhà số 51 Hàng Tiện đóng cửa. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho đương sự Chi cục áp dụng biện pháp cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất đã kê biên cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định số 10/QĐ- CCTHADS ngày 11/8/2017 vào ngày 22/8/2017. Toàn bộ tài sản trong nhà gồm các thiết bị đồ điện đã bị han rỉ, cũ hỏng do để lâu ngày, ngoài ra còn một số vật dụng khác như bình ga, két sắt đã cũ rỉ được Chi cục THADS đóng gói chuyển về kho cơ quan THADS thành phố N để bảo quản chờ xử lý theo quy định tại Điều 115 Luật Thi hành án dân sự. Chi cục đã có thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về số tài sản trong nhà số 51 Hàng Tiện là trụ sở của Công ty TNHH T ai là chủ sở hữu thì liên hệ với Chi cục THADS thành phố N để được giải quyết. Nội dung thông báo đã được đăng trên báo pháp luật số 242 và 243 ngày 30 và 31/8/2017. Đồng thời Chi cục cũng đã thông báo cho các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết.Hết thời hạn trên, do không có cá nhân và tổ chức nào chứng minh được tài sản đã thu giữ là tài sản của mình, vì vậy Chi cục THADS thành phố N xác nhận tài sản mà Chi cục đưa về kho là tài sản của Công ty T vì tài sản đó được thu giữ tại trụ sở của Công ty T và phù hợp với mặt hàng Công ty kinh doanh được thể hiện tại Mục 10 của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty T.Ngày 23/10/2017, Chi cục ra Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS kê biên tài sản trong nhà số 51 Hàng Tiện để tiếp tục xử lý. Chi cục đã tiến hành các thủ tục kê biên, mở niêm phong, xác định giá, bán đấu giá công khai theo quy định của pháp luật.Trong quá trình xử lý tài sản trong nhà số 51 Hàng Tiện do lỗi sơ suất khi soạn thảo Quyết định kê biên và biên bản mở gói mở khóa Chấp hành viên và thư ký đã đánh máy nhầm “562 thùng đựng đồ” thành “362 thùng đựng đồ” dẫn đến việc đương sự khiếu nại, tố cáo cho rằng Chấp hành viên “gây thiệt hại tài sản và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”. Cục Thi hành án dân sự tỉnh; Viện kiểm sát tỉnh N; Chi cục Thi hành án dân sự thành phố; Viện kiểm sát nhân dân thành phố đã tiến hành xác minh làm rõ về việc: Chấp hành viên cùng đại diện các Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Phòng tài chính kế hoạch thành phố N, Sở khoa học công nghệ tỉnh N đã mở niêm phong, kê biên và xác định giá theo theo phiếu xuất kho ngày 25/10/2017 là “562 thùng”, tài sản vẫn còn nguyên số lượng, chủng loại và niêm phong. Như vậy, tài sản không bị mất. Chi cục THADS ban hành Kết luận nội dung tố cáo số 02/KL-CCTHA ngày 20/7/2020 đã kết luận là tố cáo sai sự thật, không có cơ sở để xem xét chấp nhận.

Do Chấp hành viên sai sót khi đánh máy dẫn đến đương sự có đơn thư khiếu nại kéo dài. Ngày 02/5/2019 Cục trưởng Cục THADS tỉnh N đã ban hành Quyết định xử lý kỷ luật công chức thi hành án dân sự số 59/QĐ-CTHADS đối với Chấp hành viên vì lý do vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án bằng hình thức kỷ luật “Khiển trách”. Sau khi nhận Đơn của ông N, bà K, Công ty T về việc đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm về việc chia tài sản chung sau ly hôn của Tòa án nhân dân tỉnh N, Tòa Cấp cao tại H đã có các Thông báo số 83/TB-TA ngày 27/8/2021; số 84/TB-TA ngày 27/8/2021; số 36/TB-TA ngày 13/5/2022; số 475/TB-TA ngày 20/9/2022; số 614/TB-TA ngày 19/12/2022 đã xác định không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.Như vậy, toàn bộ quá trình Chấp hành viên xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Á Châutheo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2015/QĐST-KDTM ngày 04/6/2015 của Tòa án nhân dân thành phố N là đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự. Chi cục THADS đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại cácVăn bản trình bày ý kiến và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án,Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu trình bày:

Ngày 05/01/2012, vợ chồng ông Trần Văn N, bà Trần Thị K thế chấp toàn bộ Thửa đất 51 Hàng Tiện để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty T với Ngân hàng Á Châu, theo Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.01040112 được công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh N, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký và thông tin nhà đất thành phố N. Đồng thời, vợ chồng ông N còn cam kết thế chấp toàn bộ căn nhà hai tầng và một tum được xây dựng trên ba Thửa đất số AC701110, số AK894879, số AO392922, tại số 51 (35 cũ) Hàng Tiện.Ngày 04/6/2015 và ngày 07/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố N ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2015/QĐST-KDTM và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 01/2016/QĐ-SCBA về việc giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, trong đó Công tyT có nghĩa vụ trả choNgân hàng Á Châu toàn bộ số tiền gốc, lãi là 8.792.295.741 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng; trường hợp Công ty T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 51 Hàng Tiện theo Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.01040112 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 05/01/2012 để đảm bảo thu hồi nợ.Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chi cục THADS đã tiến hành kê biên và đưa ra bán đấu giá các tài sản thế chấp, theo Quyết định cưỡng chế thi hành án số 02/QĐ-CCTHADS ngày 01/12/2016, Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 45/TB-THADS ngày 01/12/2016 và Biên bản về việc kê biên, xử lý tài sản ngày 09/12/2016. Các tài sản thế chấp được xác định là các Thửa đất số 4,7,8 cùng tờ bản đồ số 12 và Thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13, tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện.Khi tài sản thế chấp được đưa ra bán đấu giá và đủ điều kiện đểNgân hàng Á Châu được nhận tài sản để trừ vào số tiền thi hành án. Ngày 23/5/2017, Ngân hàng Á Châu có đơn đề nghị nhận gán nợ đối với các tài sản thế chấp.Sau khi hết thời hạn 30 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự và theo thông báo của Chi cục THADSnhưng vợ chồng ông N không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để nhận lại tài sản.Do đó, Chi cục THADS ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017, Thông báo số 223/TB-THADS ngày 11/8/2017 về việc giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu để nhận gán nợ.Ngày 22/8/2017, Chi cục THADStổ chức bàn giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu theo Biên bản về việc giao, nhận tài sản thi hành án.Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N cập nhật sang tên tài sản choNgân hàng Á Châu trên GCNQSDĐ số AC701110, số AK894879 và số AO392922.Ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châu chuyển nhượng các tài sản này cho bà Nguyễn Thị B. Đến ngày 26/8/2020, bà B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ba Giấy chứng nhận mới.Sau khi ly hôn, bà K khởi kiện vụ án dân sự về việc “chia tài sản chung sau khi ly hôn” với bị đơn là ông N, bà Kyêu cầu chia tài sản chung gồm nhà, đất tại 51 Hàng Tiện…Ngày 20/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm vụ án bằng Bản án số 631/2019/HNGĐ-ST. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của bà K do tại thời điểm bà K khởi kiện thì nhà đất 51 Hàng Tiện không còn là tài sản chung của bà K, ông N mà thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Ngân hàng Á Châu và đã được cấp Giấy chứng nhận như nêu trên. Ngày 04/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm vụ án bằng Bản án phúc thẩm số 17/2020/DS-ST và tuyên giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 631/2019/HNGĐ-ST với cùng nhận định như Tòa án cấp sơ thẩm. Từ hai sự việc nêu trên, ông N khởi kiện vụ án hành chính, cho rằng: Cơ quan Thi hành án chưa có thông báo cưỡng chế đối với nhà đất theo Giấy chứng nhận số AC701110. Đồng thời, Chấp hành viên Nguyễn Thị Ngọc T đã bị xử lý kỷ luật do vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án. Ông N yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu trên Giấy chứng nhận số AC701110 là hành vi trái pháp luật; Hủy cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số AC701110 cho Ngân hàng Á Châu; Hủy Giấy chứng nhận số CU330743 cấp cho bà Nguyễn Thị B. Ngân hàng Á Châu thấy rằng: Trong suốt quá trình thi hành án, tài sản thi hành án đều được xác định là các Thửa đất số 4,7,8 cùng tờ bản đồ số 12 và Thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13, tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện cùng với căn nhà hai tầng và một tum (ba tầng) được xây dựng trên các Thửa đất này.Tại Thông báo số 223/TB-THADS ngày 11/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất có ghi nhận nội dung: “giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất tại: số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N cho ACB (...). Tài sản gồm: toàn bộ nG nhà ba tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8, tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại địa chỉ: số 51 Hàng Tiện,... theo Giấy chứng nhận số AK894879, số AO392922”. Như vậy, Thông báo số 223/TB-THADS đã thể hiện rất rõ Cơ quan Thi hành án giao cho Ngân hàng Á Châu toàn bộ các Thửa đất số 4,7,8 cùng tờ bản đồ số 12 và Thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13, tại địa chỉ số 51 Hàng Tiện cùng với căn nhà hai tầng và một tum (ba tầng) được xây dựng trên các Thửa đất này. Việc Thông báo số 223/TB-THADS ghi thiếu “Giấy chứng nhận số AC701110” như ông N trình bày là sai sót về kỹ thuật đánh máy của Chấp hành viên, không làm thay đổi kết quả xử lý tài sản và kết quả nhận gán nợ của Ngân hàng Á Châu. Do đó, việc ông N cho rằng Cơ quan Thi hành án chưa có thông báo cưỡng chế đối với Nhà đất theo Giấy chứng nhận số AC701110 là vi phạm quy định về thi hành án là không có cơ sở; Tại Công văn số 752/CCTHADS-GQKNTC về việc thi hành án, giải quyết đơn liên quan đến ông Trần Văn N ngày 19/10/2020 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh N có nội dung: “Chấp hành viên đã đánh nhầm “562 thùng đựng đồ” thành “362 thùng đựng đồ”. Vì vậy, dẫn đến việc đương sự hiểu lầm rằng Cơ quan Thi hành án làm thất thoát 200 thùng tài sản (thực tế thì tài sản vẫn còn ở trong kho và bị niêm phong)”. Như vậy, các tài sản có sai sót (nội thất, đồ dùng trong nhà số 51 Hàng Tiện) cũng không phải là tài sản mà Ngân hàng Á Châu nhận gán nợ. Mặc dù Chấp hành viên có sai sót về nghiệp vụ (lỗi vô ý như kết luận của Cơ quan thi hành án) nhưng không làm ảnh hưởng đến kết quả thi hành án. Do đó, việc ông N căn cứ vào quyết định xử lý kỷ luật Chấp hành viên để từ đó cho rằng kết quả thi hành án không đúng quy định pháp luật là không có cơ sở;Tranh chấp giữa ông N và bà K không ảnh hưởng đến quyền sở hữu, sử dụng nhà đất 51 Hàng Tiện của Ngân hàng Á Châu và việc Ngân hàng Á Châu chuyển nhượng tài sản này cho bà Nguyễn Thị B là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật về đất đai vì Giao dịch thế chấp đã được công chứng, đăng ký theo quy định và đã được Tòa án công nhận bằng Quyết định số 07/2015/QĐST-KDTM đã có hiệu lực thi hành. Vậy nên, các tài sản này phải được đảm bảo để thi hành án theo quy định của pháp luật; ngày 10/11/2017, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố N đã xác nhận biến động chuyển quyền cho Ngân hàng Á Châu. Tại thời điểm này, bà K và ông N chưa có tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 thì kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận, Ngân hàng Á Châu là chủ sở hữu, sử dụng các tài sản nhận gán nợ. Vậy nên, Ngân hàng Á Châu có quyền chuyển nhượng các tài sản này theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013 và khoản 3 Điều 132 Luật các Tổ chức tín dụng. Vợ chồng ông N không còn là chủ sở hữu, sử dụng các tài sản Ngân hàng Á Châu đã nhận gán nợ, trong đó có Giấy chứng nhận số AC701110; số AK 894879;số AO 332922. Tại khoản 1 Điều 103 Luật Thi hành án dân sự quy định “người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó”. Do vậy Ngân hàng Á Châu đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K.

Tại cácVăn bản trình bày ý kiếnvà quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, Phòng Công chứng số 1 thuộc Sở Tư pháp tỉnh Ntrình bày:

Ngày 22/01/2020, Phòng Công chứng số 1 tỉnh N đã nhận được Phiếu yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất tại số 51 (35 cũ) Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, giữa bên chuyển nhượng là Ngân hàng Á Châu và bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị B, địa chỉ: 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N theo các GCNQSDĐ số AC 701110 do UBND thành phố N, cấp ngày 12/7/2005; GCNQSDĐ số AK 894879 do UBND thành phố N, cấp ngày 05/11/2007; GCNQSDĐ số AO 332922 do UBND thành phố N, cấp ngày 18/02/2009.Sau khi kiểm tra hồ sơ giấy tờ mà các bên cung cấp đầy đủ, cùng ngày 22/01/2020Phòng Công chứng số 1 tỉnh N đã công chứng đối với 03 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng: 315, 316, 317 tại quyển số: 19TP/CC-SCC/HĐGD là đảm bảođúng theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 và Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169 Luật Đất đai năm 2013 quy định chung về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.Trong suốt quá trình giải quyết yêu cầu công chứng Hợp đồng, Phòng không nhận được bất kỳ văn bản thông báo ngăn chặn nào đối với các GCNQSDĐ số AC 701110; số AK 894879; số AO 332922.Do vậy, Phòng Công chứng số 1 tỉnh N đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại đơn trình bày và bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Ttrình bày:

Năm 2012, Công ty T mược các tài sản là 03 quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N và 01 quyền sử dụng đất tại xóm G xã M thành phố N của cá nhân ông Trần Văn N và bà Trần Thị K để thế chấp đảm bảo cho khoản vay của công ty tại Ngân hàng Á Châu. Cụ thể là:GCNQSDĐ số AC 701110, số AK 894879, số AO 332922. Do Công ty gặp khó khăn trong kinh doanh và không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Á Châu đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố N để yêu cầu Công ty T phải trả nợ. Công ty T và Ngân hàng Á Châu đã thoả thuận và Tòa án nhân dân thành phố N ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sựngày 04/5/2015. Năm 2016, bà K đã bỏ tiền giải chấp tài sản là 01 quyền sử dụng đất tại xóm G xã M thành phố N. Sau đó, Ngân hàng Á Châu đã yêu cầu Chi cục THADS thành phố N thi hành một phần Quyết định công nhận sự thoả thuận vào ngày 04/5/2015.Công ty T là người phải thi hành án theo Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 06/QĐ-CCTHADS ngày 09/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên Chi cục THADS đã vi phạm các quy định của pháp luật, như:Tự hợp thửa của 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến xác định sai diện tích, tài sản gắn liền trên đất. Do đó ảnh hưởng đến việc định giá, giải quyết chủ sở hữu tài sản xin nộp tiền nhận lại tài sản và việc nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, nhưng không nêu rõ giá trị tài sản trừ vào tiền thi hành án.Ngày 11/8/2017, Chấp hành viên Chi cục THADSra Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS với nội dung: “Bằng biện pháp: Giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất tại: Số 51 Hàng tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N choNgân hàng Á Châu, tài sản gồm:Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N theo các GCNQSDĐ số AK 894879 và số AO 332922 mà chưa có thông báo cưỡng chế đối với GCNQSDĐ số AC 701110. Ngày 29/8/2017, Chi cục THADS có công văn số 132/CV- CCTHADS gửi Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N về việc cấp GCNQSDĐ cho Ngân hàng Á Châu, do nhận tài sản cần trừ nợ tại thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản dồ số 12, và thửa thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ: số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N.Ngày 02/5/2019, Cục THADS tỉnh N đã ban hành Quyết định số 59/QĐ-CTHADS xử lý kỷ luật công chức THADS với các hình thức:Kỷ luật khiển trách đối với Chấp hành viên trung cấp Chi cục THADS với lý do vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án và phê bình trong cơ quan, phê bình trong toàn ngành đối với một số cá nhân khác.Như vậy cho thấy các sai phạm của cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành án. Tuy nhiên, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N đã căn cứ hồ sơ thi hành án vi phạm các quy định của pháp luật để thực hiện xác nhận trên trang 4 GCNQSDĐ đã cấp và cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện sau khi đã phát mại tài sản hoàn thành, từ GCNQSDĐ số AC 701110, số AK 894879, số AO 332922để chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N là trái quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bà Trần Thị K cũng có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn với ông Trần Văn N tại Tòa án nhân dân thành phố N, trong đó tài sản là các GCNQSDĐ số AC 701110, số AK894879 và số AO332922. Trong vụ án này, Ngân hàng Á Châu là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tài sản đang tranh chấp và đang được Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm thì ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châu đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại GCNQSDĐ số AC 701110, số AK894879 và số AO332922 cho bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972, trú tại 31 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố N, tỉnh N. Các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thực hiện tại Phòng công chứng số 01 tỉnh N. Với lý do nêu trên thì các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Á Châu và bà Nguyễn Thị B tại Phòng công chứng số 01 tỉnh N là vô hiệu. Đối với các yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và các yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với pháp luật hiện hành. Công ty T đề nghị Tòa án: Hủy Quyết định về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất số 10/QĐ- CCTHADS ngày 11/8/2017 của Chi cục THADS thành phố N; Hủy Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS ngày 11/8/2017 của Chi cục THADS thành phố N; Nếu đề nghị của bên Công ty T được Tòa án chấp nhận, Tòa án xem xét thẩm định giá tại chỗ để Công ty T mua lại tài sản thế chấp theo giá trị thị trường hiện tại để công ty T hoàn trả tài sản cho ông Trần Văn N và bà Trần Thị K.

Tại bản tự khaivà quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B trình bày:

Ngân hàng Á Châu đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N cho bà Nguyễn Thị B, Hợp đồng đã được Phòng Công chứng số 1 thuộc Sở Tư pháp tỉnh N công chứng hợp pháp, bà B đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với nhà nước. Ngày 26/8/2020 Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp GCNQSDĐ đất cho bà Btheo đúng quy định của pháp luật. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông N và yêu cầu độc lập của bà K là không có căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà B. Đề nghị Tòa án bác các yêu cầu cầu của ông N và bà K và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại các đơn trình bày, đơn đề nghị, đơn yêu cầu độc lập, đơn yêu cầu độc lập bổ sung và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Trần Thị K trình bày:

Năm 2012, bà và ông Trần Văn N đã thế chấp các tài sản là 03 quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N và 01 quyền sử dụng đất thửa 24A, tờ 12.1 tại xóm G, Mai Xá, xã Mỹ Xá, thành phố N, tỉnh N để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T tại Ngân hàng Á Châu. Theo bản cam kết thế chấp ngày 05/01/2012 của bà và ông Trần Văn N với Ngân hàng Á Châu là thế chấp 135,7 m² đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở kết cấu tường gạch, mái bê tông cốt thép, nền gạch men, nhà xây 2 tầng 1 tum, diện tích 340 m², các giấy tờ pháp lý là GCNQSDĐ số AC701110, số AK 894879, số AO 332922.Do Công ty T gặp khó khăn và không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nênNgân hàng Á Châuđã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố N để yêu cầu Công ty T trả nợ. Công ty T và Ngân hàng Á Châu đã thoả thuận và được Tòa án ra Quyết định công nhận sự thoả thuận vào ngày 04/5/2015.Năm 2016, bà đã bỏ tiền giải chấp tài sản là 01 quyền sử dụng đất tại xóm G xã Mỹ Xá thành phố N. Sau đó Ngân hàng Á Châu đã có đơn yêu cầu Chi cục THADS thi hành một phần Quyết định của Tòa án.Công ty T là người phải thi hành án theo Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 06/QĐ-CCTHADS ngày 09/11/2016 của Chi cục THADS. Các tài sản phải thi hành án là:GCNQSDĐ số AC701110, số AK 894879, số AO 332922. Ngày 24/11/2016, Chấp hành viên Chi cục THADS lập Biên bản về việc xác minh điều kiện thi hành án.Ngày 22/12/2016, Chấp hành viên Chi cục THADSra Thông báo về kết quả thẩm định giá tài sản số 71/TB-THADS.Ngày 22/5/2017,Chấp hành viên Chi cục THADSra Thông báo 161/TB-THADS về việc bán đấu giá không thành lần 3.Ngày 23/5/2017, Ngân hàng Á Châucó Đơn đề nghị về việc nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, nhưng không nêu rõ giá trị tài sản trừ vào tiền thi hành án.Ngày 30/6/2017,Chấp hành viên Chi cục THADSra Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS.Ngày 10/7/2017, bà có Đơn đăng ký mua tài sản với giá thị trường là 4.200.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng).Ngày 17/7/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS lập Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án với Ngân hàng Á Châu. Biên bản có nội dung: “Ngân hàng Á Châu không đồng ý với đơn đăng ký mua tài sản của bà Trần Thị K ghi ngày 10/7/2017 với giá mua là 4.200.000.000 đồng. Đề nghị Chi cục THADS thành phố N xử lý theo quy định của pháp luật”. Ngày 11/8/2017, Chấp hành viên Chi cục THADS đã ra Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS với nội dung: Giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất tại: Số 51 Hàng tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Tài sản gồm:Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, tỉnh N theo các GCNQSDĐ số AK 894879, số AO 332922. Như vậy tài sản là GCNQSDĐ số AC701110chưa có thông báo cưỡng chế. Bà cũng đã có đơn khiếu nại đối với Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS và Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS đến Chi cục THADS, không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại bà tiếp tục khiếu nại đến Cục THADS tỉnh N nhưng bị từ chối tiếp công dân.Ngày 29/8/2017, Chi cục THADS có công văn số 132/CV- CCTHADS gửi Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N về việc cấp GCNQSDĐ cho Ngân hàng Á Châu do nhận tài sản cấn trừ nợ tại thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12, và thửa thửa đất số 29 tờ bản đồ số 13 tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N.Ngày 21/9/2017, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N đã có công văn số 2499/STNMT-VPĐK với nội dung:Để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng Á Châu khi việc phát mại quyền sử dụng đất chưa thành, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N thực hiện xác nhận trên trang 4 GCNQSDĐ đã cấp;Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định xử lý tài sản đảm bảo là bất động sản, Ngân hàng Á Châutiếp tục thực hiện việc phát mại quyền sử dụngđất và thực hiện cấp đổi GCN theo quy định.Việc cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện sau khi đã phát mại tài sản hoàn thành.Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên viên trung cấp Chi cục THADS đã có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành án. Ngày 02/5/2019, Cục THADS tỉnh N đã ban hành Quyết định số 59/QĐ-CTHADS quyết định xử lý kỷ luật công chức THADS.Như vậy cho thấy, hành vi của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N đã căn cứ hồ sơ thi hành án vi phạm các quy định của pháp luật để “thực hiện xác nhận trên trang 4 GCNQSDĐ đã cấp” và “cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện sau khi đã phát mại tài sản hoàn thành” từ GCNQSDĐ số AK 894879, số AO 332922chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục THADSlà trái quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngày 02/11/2017, bà đã có đơn đề nghị về việc sang tên đổi chủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi UBND thành phố N, Phòng tài nguyên và môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N.Đồng thời, bà cũng có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn với ông Trần Văn N, trong đó có tài sản là GCNQSDĐ số AK 894879, số AO 332922. Trong vụ án này, Ngân hàng Á Châu là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tài sản đang tranh chấp và đang được Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm thì ngày 22/01/2020, Ngân hàng Á Châu đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theoGCNQSDĐ số AK 894879 và số AO 332922 cho bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972, trú tại 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thực hiện tại Phòng công chứng số 01 tỉnh N.Với lý do nêu trên thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Á Châu và bà Nguyễn Thị B tại Phòng công chứng số 01 tỉnh N làvô hiệu. Việc Ngân hàng Á Châu chuyển nhượng cho bà B bà không biết nên đến ngày 17/02/2021 bà vẫn có đơn đính chính giá tiền xin mua lại tài sản và có các đơn đề nghị ngăn chặn không chuyển nhượng tài sản gửi đến các cơ quan chức năng.

Nay bà yêu cầu Tòa án:Tuyên bố Hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc đăng ký biến động chuyển đổi quyền sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 894879, do UBND thành phốN cấp ngày 05/11/2007, đăng ký sang tên cho Ông Trần Văn N tại Phòng tài nguyên và Môi trường Thành phố N ngày 12/05/2010, tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N. Chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP Á Châu ngày 10/11/2017 theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N là hành vi hành chính trái pháp luật; Tuyên bố Hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc đăng ký biến động chuyển đổi quyền sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 332922, do UBND thành phốN cấp ngày 18/02/2009, đăng ký sang tên cho Ông Trần Văn N tại Phòng tài nguyên và Môi trường Thành phố N ngày 12/05/2010 tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N. Chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP Á Châu ngày 10/11/2017 theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N là hành vi hành chính trái pháp luật; Hủy GCNQSDĐ số AK 894879 được UBND thành phố N cấp ngày 05/11/2007, phần xác nhận trên trang 4 GCN chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu ngày10/11/2017; Hủy GCNQSDĐ số AO 332922 được UBND thành phố N cấp ngày 18/02/2009, phần xác nhận trên trang 4 GCN chuyểnquyền sử dụng đất cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu ngày10/11/2017; Hủy 02 GCNQSDĐ đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp cho bà Nguyễn Thị B từ 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 894879 và số AO 332922, phần xác nhận trên trang 4 GCN chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng TMCP Á Châungày 10/11/2017.

Tại các Văn bản trình bày ý kiến và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, UBND phường Q, thành phố Ntrình bày:

Đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Các đương sự giữ nguyên quan điểm mà mình đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành quyền, nghĩa vụ của các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

-Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụán được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến trình bày của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hộiđồng xét xử nhậnđịnh như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Trần Văn N yêu cầu Toà án:Tuyên bố hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc xác nhận biến động (theo quy định thì thẩm quyền xác nhận biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phốN) chuyểnquyền sử dụngGCNQSDĐ số AC701110 từ tên ông Trần Văn Ncho Ngân hàng Á Châu là hành vi hành chính trái pháp luật; Huỷ GCNQSDĐ số AC701110 được UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, phần xác nhận trên trang 4 về việc chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017; Huỷ GCNQSDĐ số CU 330743 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp cho bà Nguyễn Thị Bngày 26/8/2020.

Bà Trần Thị K yêu cầu Toà án: Tuyên bố hành vi hành chính của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc xác nhận biến động (theo quy định thì thẩm quyền xác nhận biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N)chuyểnquyền sử dụng GCNQSDĐ số AK 894879và GCNQSDĐ số AO 332922 từ tên ông Trần Văn Ncho ngân hàng TMCP Á Châu là hành vi hành chính trái pháp luật;Huỷ GCNQSDĐ số AK 894879 được UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, phần xác nhận trên trang 4về việc chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017; Huỷ GCNQSDĐ số AO 332922 được UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, phần xác nhận trên trang 4về việc chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017; Huỷ 02 GCNQSDĐ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp cho bà Nguyền Thị B.

Như vậy, trên đây là các Quyết định hành chính, hành vi hành chínhtrong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vậy,Tòa án nhân dân tỉnh N thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện:

Người khởi kiện là ông Trần Văn N trình bày ngay sau khi biết được sự việc, ngày 29/10/2020 ông đã có Đơn khiếu nại gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N về việc xác nhận biến động chuyển đổi quyền sử dụng GCNQSDĐ số AC 701110 đứng tên ông chuyển sang tên Ngân hàng Á Châu, đến ngày 15/8/2023 Toà án nhận được đơn khởi kiện của ông Nlà hết thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, thời điểm ông N biết được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ số CU 330743 cho bà Nguyễn Thị B vào khoảng cuối năm 2022, vì vậyđược xác định là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản2Điều 116củaLuật Tố tụng hành chính.

Về việc xác định tư cách đương sự trong vụ án:

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N đã thực hiện xác nhận biến động trên trang 4của GCNQSDĐ số AC701110. số AK 894879, số AO 332922. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị phụ thuộc của Văn phòng đăng ký đất đai; Việc cấp GCNQSDĐ cho bà B thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai; khoản 1 Điều 37 NĐ 43/2014/NĐ-CP. Do vậy, Toà án xác định người bị kiện là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N. Các đương sự khác là người khởi kiện, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án ghi trong Bản ánlà đúng theo quy định tại khoản 8, 9, 10 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính.

Đối với UBND thành phố N; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N; ông Phạm Anh T, bà Nguyễn Thị L; ông Trần Mạnh Dg, bà Đặng Thị Kim D: Các GCNQSDĐ số AC701110,số AK 894879, số AO 332922 đều do UBND thành phố N cấp, trên trang 4 củacác GCNQSDĐđều do Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N xác nhận biến động ngày 12/5/2010 về việc ông Trần Văn N nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Anh T, bà Nguyễn Thị LGCNQSDĐ số AC701110 và nhận chuyển nhượng của ông Trần Mạnh D, bà Đặng Thị Kim DGCNQSDĐ số AK 894879, số AO 332922. Ông N, bà Kchỉ yêu cầu Toà án tuyên bố hành vi xác nhận biến động sang tên từ ông Trần Văn N sang cho Ngân hàng Á Châu là trái pháp luật và yêu cầu Toà án huỷ phần xác nhận trên trang 4 của các GCNQSDĐ. Như vậy, việc giải quyết vụ ánkhông liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của UBND thành phố N; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N; ông Phạm Anh T, bà Nguyễn Thị L; ông Trần Mạnh D, bà Đặng Thị Kim D, do vậy Toà án không xác định họ là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính.

Đối với nội dung đơn của bà Trần Thị Kvề việc đề nghị Toà án thu thập tài liệu chứng cứ gồm: Tài liệu xác định giá trị tài sản củaGCNQSDĐ số AC701110; 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ngân hàng Á Châu và bà Nguyễn Thị B; 02 GCNQSDĐ được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho bà Nguyễn Thị B từ 02 GCNQSDĐ số AK 894879 và số AO 332922. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã giao nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án, do vậy Toà án không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ theo đề nghị của bà K.

Đối với đề nghị khác của bà Trần Thị K:

Trong quá trình giải quyết vụ án, trước khi có đơn yêu cầu độc lập bà K có văn bản trình bày quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết: Yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N thực hiện việc xác định tài sản theo GCNQSDĐ số AC701110 tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, TP N, từ đó thẩm định giá theo giá thị trường hiện tại để bà nộp tiền và nhận lại tài sản. Tuy nhiênyêu cầu này không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.

Đối với đề nghị của đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T:

Ông Trần Văn N là người đại diện theo pháp luật của Công ty T đề nghị Toà án: Huỷ Quyết định về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất số 10/QĐCCTHADS ngày 11/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N; Huỷ Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số223/TB-THADS ngày 11/82017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N; nếu đề nghị của Công ty được chấp nhận thì đề nghị Toà án xem xét thẩm định giá tại chỗ để Công ty T thực hiện nghĩa vụ mua lại tài sản thế chấp theo giá trị thị trường hiện tại để Công ty hoàn trả tài sản cho ông Trần Văn N và bà Trần Thị K. Tuy nhiên, các yêu cầu này đềukhông thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.

Về việc xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K:

Ông N yêu cầu Toà án tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luậtvề việc xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AC701110, đồng thời yêu cầu hủy phần xác nhận trên trang 4 GCN này; Bà K yêu cầu Toà án tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luậtvề việc xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AK 894879và số AO 332922,đồng thời yêu cầu hủy phần xác nhận trên trang 4 của hai GCN này. Như vậy, ông N và bà K đều yêu cầu Tòa án vừa tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật về việc xác nhận trên trang 4, vừa yêu cầu hủy phần xác nhận trên trang 4 của GCNQSDĐ là trùng nhau, thực chất thì hai yêu cầu này chỉ là yêu cầu huỷ phần xác nhận biến động trên trang 4 của các GCNQSDĐ. Khi Toà án xem xét, đánh giá tính hợp pháp của phần xác nhận trên trang 4 đối với các GCNQSDĐ thì Toà án cũng đã xem xét cả về hành vi xác nhận biến động có hợp pháp hay không. Do vậy, Toà án chỉ xem xét, giải quyết đối với yêu cầu huỷ phần xác nhận biến động trên trang 4 của 3 GCNQSDĐ nêu trên theo điểm a, b Khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính.

Đối với Văn bản số 2494//STNMT-VPĐK ngày 21/9/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trườngtỉnh N:

Đây là Văn bảncủa Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N đối với việc cấp GCNQSDĐ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, không phải là Văn bản hành chính có liên quan đến Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án hành chính.

Đối với Văn bản giải quyết khiếu nại của Sở Tài nguyên và Môi trường:

Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK ngày 02/12/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc trả lời đơn khiếu nại của ông Trần Văn N, mặc dù không được thể hiện dưới hình thức là Quyết định nhưng Văn bản có chứa đựng nội dung của Quyết định hành chính. Vì vậy Toà án xác định đây là Văn bản hành chính có liên quan đến Quyết định hành chính bị kiện, Toà án sẽ xem xét, đánh giá tính hợp pháp của Văn bản này theo quy định tại khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 193Luật Tố tụng hành chính.

Về việc Tòa án không tiến hành đối thoại:

Trong quá trình giải quyết vụ áncác đương sự đều có văn bảnđề nghị Tòa án không tiến hành đối thoại, vì vậy Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với đương sự có mặt tại phiên họp mà không tiến hành đối thoại theo quy định tại Điều 135; khoản 3 Điều 139 Luật Tố tụng hành chính.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tại phiên tòa có mặt: Ông N, bà K, bà B, ông T, ông T, ông T.Vắng mặt ông K, ông H, ông T, bà T, bà V, các đương sự này đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông H vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xét tính hợp pháp vềphần xác nhận biến động trên trang 4của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Nđối với cácGCNQSDĐ số AC701110, do UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005; GCNQSDĐsố AK 894879, do UBND thành phố N cấp ngày 05/11/2007;GCNQSDĐsố AO 332922 do UBND thành phố N cấp ngày 18/02/2009về việc chuyển quyền sử dụng đất từ tên ông Trần Văn N cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017:

Ngày 05/01/2012 vợ chồng ông Trần Văn N và bà Trần Thị K đã ký Hợp đồng thế chấp, Cam kết thế chấp và Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đối với cácGCNQSDĐ số AC701110; số AK 894879; số AO 332922 cùng tài sản gắn liền với đất tại 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố Nvà GCNQSDĐ số BG 436336 tại xóm G, xã M, TP Ncho Ngân hàng Á Châuđể đảm bảo nghĩa vụ cho khoản vay của Công ty T do ông Trần Văn N là Giám đốc. Do Công ty T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Á Châu đã khởi kiện vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố N.Tại Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2015/QĐST-KDTM ngày 04/6/2015 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 01/2016/QĐST-KDTM ngày 07/11/2016 thì Công tyTcòn nợNgân hàng Á Châutổng các khoản tiền gốc, lãi, lãi phạt, lãi quá hạn là 9.272.295.741 đồng...; trường hợp Công tyT vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng Á Châu có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ (Năm 2016 bà Kđã thanh toán số tiền 480.000.000 đồng và rút về GCNQSDĐ số BG 436336 tại xóm G, xã M, TP N). Do Công ty T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Ngày 09/11/2016 Ngân hàng Á Châu đã nộp Đơn yêu cầu Thi hành ántheo Quyết định của Tòa án để thu hồi nợ.Ngày 09/11/2016 Chi cục THADS ra Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án đối với Công ty T.Ngày 01/12/2016, Chi cục THADS ra Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ông N và bà K, địa chỉ tại số 51 Hàng Tiện để đảm bảo thi hành án, đồng thời có Thông báo số 45/TB-THADS về việc cưỡng chế thi hành án gửi các đương sự. Ngày 09/12/2016, Chi cục THADS lập biên bản về việc kê biên, xử lý tài sản. Ông N và bà K đã được thông báo hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Ngày 22/12/2016, Chi cục THADSra Thông báo số 71/TB-THADS về kết quả thẩm định giá tài sản đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị nhà tại số 51 Hàng Tiện.Ngày 29/12/2016, Chi cục THADSký Hợp đồng bán đấu giá với Công ty CP dịch vụ đấu giá X; tài sản bán đấu giá là giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất tại số 51 Hàng Tiện. Ngày 20/5/2017, Công ty Cổ phần dịch vụ đấu giá X có thông báo về việc bán đấu giá nhà 51 Hàng Tiện lần thứ 3 không thành vì không có khách hàng mua và nộp hồ sơ tham gia đấu giá. Do việc bán đấu giá không thành, ngày 23/5/2017 Ngân hàng Á Châucó đơn đề nghị được nhận lại tài sản là toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất tại số 51 Hàng Tiện để trừ vào số tiền được thi hành án. Ngày 23/5/2017 Chi cục THADSra Thông báo số 164/TB-THADS gửi ông N và bà Kvề việc Ngân hàng Á Châu đồng ý nhận các tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án; tài sản gồm: Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128.18 m², tại số 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N. Ngày 30/6/2017, Chi cục THADSra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 11/8/2017, Chi cục THADS ra Quyết định số 10/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất, cụ thể: Giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất tại số 51 Hàng Tiện cho Ngân hàng Á Châu. Tài sản gồm: Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128.18 m², tại số 51 Hàng Tiện theo cácGCNQSDĐ số AC701110, số AK 894879, số AO 332922. Ngày 22/8/2017, Chi cục THADScùng đại diện các cơ quan liên quan thực hiện cưỡng chế bàn giao tài sản; bàn giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu. Ông N và bà K đã được thông báo hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do;

Ngày 06/10/2017 Ngân hàng Á Châu nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất đối với toàn bộ nhà và đất tại số nhà 51 Hàng Tiện theo Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án làNgân hàng Á Châu. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động trên trang 4chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châutại các GCNQSDĐ số AC701110, số AK 894879, số AO 332922.

HĐXX xét thấy:

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu thi hành án Chi cục THADS đã ra Quyết định về việc thi hành án đối với Công ty T và tiến hành các thủ tục về việc:Xác minh điều kiện thi hành án, sau khi xác định Công ty T có điều kiện để thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành nên đã ra Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của ông N, bà K thế chấp cho Ngân hàng Á Châu để đảm bảo thi hành án; lập Biên bản kê biên xử lý tài sản; tiến hành thẩm định giá tài sản, sau khi có kết quả thẩm định giá đã thông báo tống đạt hợp lệ cho các bên đương sự biết; tiến hành thủ tục bán đấu giá tài sản; sau khi bán đấu giá lần thứ 3 không thành; Ngân hàng Á Châu đã có đơn đề nghị được nhận lại tài sản; Chi cục THADSra Thông báo gửi ông N và bà K về việc Ngân hàng Á Châu đồng ý nhận các tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án và ấn định trong thời hạn 30 ngày nếu người phải thi hành án không nộp đủ tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản thì Chấp hành viên sẽ giao lại tài sản cho người được thi hành án; hết thời hạn người có tài sản bảo đảm không có ý kiến về việc nhận lại tài sản; ngày 30/6/2017, Chi cục THADSra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu theo Điều 104 Luật Thi hành án dân sự 2008 (SĐBS năm 2014); Do ông N, bà K đã được thông báo hợp lệ nhưng vẫn không chuyển các tài sản bên trong nhà số 51 Hàng Tiện để giao cho Ngân hàng Á Châu nên THADS ra Quyết định về việc cưỡng chế giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất và tiến hành cưỡng chế bàn giao tài sản cho Ngân hàng Á Châu; ngày 06/10/2017 Ngân hàng Á Châu nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất đối với toàn bộ nhà và đất tại số nhà 51 Hàng Tiện, phường Q, thành phố N, theo Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu; ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 chuyển quyền sử dụng đất từ tên ông Trần Văn N sang tên cho Ngân hàng Á Châu theo các GCNQSDĐ số AC701110, số AK 894879, số AO 332922là đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung theo quy định của pháp luật.

Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện rõ: Khi tiến hànhcác thủ tục thi hành án Chấp hành viên Chi cục THADS đã tống đạt, niêm yết các văn bản cho các đương sự theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự; Trong quá trình xem xét đơn tố cáo của bà K Cục THADS tỉnh N đã xác định trong nội dung của Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS ngày 23/7/2017 về việc kê biên tài sản bên trong nhà số 51 Hàng Tiện, Chấp hành viên đã đánh máy nhầm: “562 thùng đựng đồ thành 362 thùng đựng đồ” dẫn đến việc đương sự có nhiều đơn khiếu nại tố cáo gửi các Ban nghành từ Trung ương đến địa phương. Do đó, Cục THADS tỉnh N đã ban hành Quyết định số 59/QĐ-CTHADS ngày 02/5/019 xử lý kỷ luật khiển trách đối với Chấp hành viên Chi cục THADS thành phố N; tại Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án số 223/TB-THADS, ngày 11/8/2017, có việc ghi thiếu GCNQSDĐ số AC701110, tuy nhiên cũng trong nội dung văn bản này cùng các văn bản có liên quan khác đều ghi rõ tài sản cưỡng chế gồm:Toàn bộ nG nhà 3 tầng và quyền sử dụng đất có diện tích 128,18 m², thửa đất số 4, 7, 8 tờ bản đồ số 12; thửa đất số 29, tờ bản đồ số 13, tại số 51 Hàng Tiện,đây là các thửa đất nằm trong các GCNQSDĐ số AC701110; số AK 894879; số AO 332922; Tại Hợp đồng thế chấp và cam kết thế chấp, bên thế chấp đã cam kết: “Khi xử lý tài sản thế chấp nếu diện tích đất, diện tích xây dựng được thế chấp có thay đổi vì bất cứ lý do gì (lớn hơn hoặc nhỏ hơn)….thì Ngân hàng hoặc cơ quan có thẩm quyền có toàn quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ…; trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa án ông N, bà K cũng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.

Ông N, bà K cho rằng: Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên Chi cục THADS thành phố N đã có hành vi vi phạm các quy định đã bị Cục THADS tỉnh N xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cụ thể các hành vi vi phạm như: Ban hành Thông báo số 223/TB-THADS về việc cưỡng chế thi hành án nhưng chưa có thông báo cưỡng chế đối với tài sản là GCNQSDĐ số AC 701110; không tống đạt Thông báo cưỡng chế đối với tài sản là GCNQSDĐ số AC 701110; ông N, bà K chưa bàn giao tài sản là GCNQSDĐ số AC 701110; tự hợp ba thửa đất dẫn đến xác định sai diện tích và không nêu rõ giá trị tài sản để trừ vào tiền thi hành án; ngày 02/11/2017 bà K đã có đơn đề nghị về việc sang tên đổi chủ GCNQSDĐ gửi UBND thành phố N, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng ĐKĐĐ thành phố N nên đã yêu cầu Tòa án hủy phần xác nhận biến động trên trang 4đối với cácGCNQSDĐ số AC701110; số AK 894879; số AO 332922 về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất từ tên ông Trần Văn N cho Ngân hàng Á Châu ngày 10/11/2017 là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét tính hợp pháp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU330743 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B, tại địa chỉ31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nhận đơn đề nghị cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị B. Thành phần hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện như sau:Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ngân hàng TMCP Á Châu chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị B đã được Phòng Công chứng số 1 tỉnh N công chứng ngày 22/01/2020, có số công chứng 315, quyển số 19TP/CC-SCC/HĐGD;Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 22/01/2020có ý kiến xác nhận củaChi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N;Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtngày 22/01/2020có ý kiến xác nhận củaChi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Nvà Văn phòng Đăng ký đất đaitỉnh N; Bản gốc GCNQSDĐ số AC701110, do UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, trang 4 xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất từ ông Trần Văn Ncho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

HĐXX xét thấy: Ngày 22/01/2020Ngân hàng Á Châu đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại số 51 Hàng tiện cho bà Nguyễn Thị B là thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh N đang giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn giữa bà K và ông N liên quan đến GCNQSDĐ số AC701110. Tuy nhiên GCNQSDĐ số AC701110 là tài sản mà ông N, bà K đã thế chấp cho Ngân hàng Á Châu để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T, Chi cục THADS đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AC701110chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu. Như vậy, Ngân hàng Á Châu là người được bảo vệ quyền của người nhận tài sản để thi hành án theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự 2008 (SĐBS năm 2014) và tại thời điểm này Ngân hàng Á Châu thực hiện chuyển nhượng tài sản là bất động sản để đảm bảotỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 Luật Các Tổ chức tín dụng.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, ngày 26/8/2020Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sốCU 330743 cho bà Nguyễn Thị Blà đảm bảovề trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung theo quy định tạiđiểm k khoản 1 Điều 99; khoản 3 Điều 105 luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 37Nghị định 43/2014/NĐ-CP; khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ xem xét cấp GCNQSDĐ cho bà B, SởTài nguyên và Môi trường không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai là GCNQSDĐ số AC701110 nên khôngcó căn cứ để từ chối hồ sơ cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 11 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT.

Mặt khác, Tại Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K về việc yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 51 Hàng tiện với lý do: Tài sản đã thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của Ngân hàng Á Châu. Sau khi ông N, bà K, Công ty T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã có các Thông báo giải quyết đơn đề nghị số 83/TTB-TA ngày 27/8/2021; số 84/TB-TA ngày 27/8/2021; số 36/TB-TA ngày 13/5/2022; số 475/TB-TA ngày 20/9/2022; số 614/TB-TA ngày 19/12/2022 thông báo về việc không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh N theo đơn của ông N, bà K, và Công ty T.

Vì vậy ông Trần Văn N khởi kiện cho rằng quá trình thi hành án chấp hành viên đã có vi phạm trong khi tổ chức thi hành án; hành vi xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AC701110từ tên ông sang tên Ngân hàng Á Châu là trái pháp luật; ngày 02/11/2017 bà Kcũng đã có văn bản đề nghị về việc sang tên đổi chủ GCNQSDĐ và thời điểm Ngân hàng Á Châu chuyển nhượng GCNQSDĐ số AC701110 cho bà B là tài sản đang tranh chấp trong vụ án chia tài sản chung sau ly hôn, đề nghị Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 330743 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị Blà không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét tính hợp pháp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 330699 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B, tại địa chỉ 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nhận đơn đề nghị cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị B. Thành phần hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện như sau:Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ngân hàng TMCP Á Châu chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị B đã được Phòng Công chứng số 1 tỉnh N công chứng ngày 22/01/2020, có số công chứng 316, quyển số 19TP/CC-SCC/HĐGD;Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 22/01/2020 có ý kiến xác nhận của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N;Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtngày 22/01/2020 có ý kiến xác nhận củaChi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Nvà Văn phòng Đăng ký đất đaitỉnh N;Bản gốc GCNQSDĐsố AK 894879, do UBND thành phố N cấp ngày 05/11/2007, trang4xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất từ ông Trần Văn Ncho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

HĐXX xét thấy: Ngày 22/01/2020Ngân hàng Á Châu đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại số 51 Hàng Tiện cho bà Nguyễn Thị B là thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh N đang giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn giữa bà K và ông N liên quan đến GCNQSDĐ số AK 894879. Tuy nhiên GCNQSDĐ số AK 894879 là tài sản mà ông N, bà K đã thế chấp cho Ngân hàng Á Châu để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T, Chi cục THADS đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AK 894879chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu. Như vậy, Ngân hàng Á Châu là người được bảo vệ quyền của người nhận tài sản để thi hành án theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự 2008 (SĐBS năm 2014) và tại thời điểm này Ngân hàng Á Châu thực hiện chuyển nhượng tài sản là bất động sản để đảm bảotỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 Luật Các Tổ chức tín dụng.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, ngày 26/8/2020Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sốCU 330699 cho bà Nguyễn Thị Blà đảm bảovề trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung theo quy định tạiđiểm k khoản 1 Điều 99; khoản 3 Điều 105 luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 37Nghị định 43/2014/NĐ-CP; khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ xem xét cấp GCNQSDĐ cho bà B, SởTài nguyên và Môi trường không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai là GCNQSDĐ số AK 894879 nên không có căn cứ để từ chối hồ sơ cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 11 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT.

Mặt khác, Tại Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K về việc yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 51 Hàng tiện với lý do: Tài sản đã thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của Ngân hàng Á Châu. Sau khi ông N, bà K, Công ty T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã có các Thông báo giải quyết đơn đề nghị số 83/TTB-TA ngày 27/8/2021; số 84/TB-TA ngày 27/8/2021; số 36/TB-TA ngày 13/5/2022; số 475/TB-TA ngày 20/9/2022; số 614/TB-TA ngày 19/12/2022 về việc không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh N theo đơn của ông N, bà K, và Công ty T.

Vì vậy, bà Trần Thị K cho rằng quá trình thi hành án Chấp hành viên đã có vi phạm trong khi tổ chức thi hành án; hành vi xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AK 894879từ tên ôngN sang tên Ngân hàng TMCP Á Châu là trái pháp luật; bà cũng đã có đơn đề nghị ngăn chặn không chuyển nhượng tài sản đến các cơ quan chức năng và GCNQSDĐ số AK 894879 là tài sản đang tranh chấp trong vụ án chia tài sản sau ly hôn và đề nghị Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 330699 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị Blà không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét tính hợp pháp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 330744 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B tại địa chỉ 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N:

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N nhận đơn đề nghị cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị B. Thành phần hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ được thực hiện như sau:Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ngân hàng TMCP Á Châu chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị B đã được Phòng Công chứng số 1 tỉnh N công chứng ngày 22/01/2020, có số công chứng 317, quyển số 19TP/CC-SCC/HĐGD;Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 22/01/2020 có ý kiến xác nhận của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N;Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtngày 22/01/2020 có ý kiến xác nhận củaChi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Nvà Văn phòng Đăng ký đất đaitỉnh N;Bản gốc GCNQSDĐsố AO 332922 do UBND thành phố N cấp ngày 18/02/2009, trang4xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất từ ông Trần Văn Ncho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

HĐXX xét thấy: Ngày 22/01/2020Ngân hàng Á Châu đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại số 51 Hàng tiện cho bà Nguyễn Thị B là thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh N đang giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn giữa bà K và ông N liên quan đến GCNQSDĐ số AO 332922. Tuy nhiên GCNQSDĐ số AO 332922 là tài sản mà ông N, bà K đã thế chấp cho Ngân hàng Á Châu để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T, Chi cục THADS đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 về việc giao tài sản cho người được thi hành án là Ngân hàng Á Châu. Ngày 10/11/2017, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐsố AO 332922chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu. Như vậy, Ngân hàng Á Châu là người được bảo vệ quyền của người nhận tài sản để thi hành án theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự 2008 (SĐBS năm 2014) và tại thời điểm này Ngân hàng Á Châu thực hiện chuyển nhượng tài sản là bất động sản để đảm bảotỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định theo quy định tại Khoản 3 Điều 132 Luật Các Tổ chức tín dụng.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, ngày 26/8/2020Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sốCU 330744 cho bà Nguyễn Thị B là đảm bảovề trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung theo quy định tạiđiểm k khoản 1 Điều 99; khoản 3 Điều 105 luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 37Nghị định 43/2014/NĐ-CP; khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ xem xét cấp GCNQSDĐ cho bà B, SởTài nguyên và Môi trường không nhận được bất kỳ văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai là GCNQSDĐ số AO 332922nên khôngcó căn cứ để từ chối hồ sơ cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 11 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT.

Mặt khác, Tại Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K về việc yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 51 Hàng tiện với lý do: Tài sản đã thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của Ngân hàng Á Châu. Sau khi ông N, bà K, Công ty T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã có các Thông báo giải quyết đơn đề nghị số 83/TTB-TA ngày 27/8/2021; số 84/TB-TA ngày 27/8/2021; số 36/TB-TA ngày 13/5/2022; số 475/TB-TA ngày 20/9/2022; số 614/TB-TA ngày 19/12/2022 về việc không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án số 17/2020/DS-PT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ntheo đơn của ông N, bà K, và Công ty T.

Vì vậy, bà Trần Thị K cho rằng quá trình thi hành án Chấp hành viên đã có vi phạm trong khi tổ chức thi hành án; hành vi xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AO 332922từ tên ông N sang tên Ngân hàng TMCP Á Châu là trái pháp luật; bà cũng đã có đơn đề nghị ngăn chặn không chuyển nhượng tài sản đến các cơ quan cức năng và GCNQSDĐ số AO 332922là tài sản đang tranh chấp trong vụ án chia tài sản sau ly hôn nênđề nghị Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 330744 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị Blà không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét tính hợp pháp của Văn bản có liên quan đến Quyết định hành chính là: Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK ngày 02/12/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nvề việc trả lời đơn khiếu nại của ông Trần Văn N:

Sau khi xem xét Đơn khiếu nại của ông Trần Văn N đề ngày 29/10/2020 có nội dung đã gửi đơn khiếu nại đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N nhưng chưa được xem xét thụ lý giải quyết khiếu nại trong thời hạn luật định.Ông N tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến Sở Tài nguyên và Môi trường khiếu nại về việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố N xác nhận biến động trên trang 4 GCNQSDĐ số AC701110 ngày 10/11/2017 cho Ngân hàng Á Châu là trái pháp luật. Sở Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu nội dung đơn khiếu nại; xem xét về nguồn gốc GCNQSDĐ số AC701110; xem xét đánh giá về Hợp đồng thế chấp, quá trình tổ chức thi hành án, hồ sơ đề nghị xác nhận biến động quyền sử dụng đất của Ngân hàng TMCP Á Châu. Ngày 02/12/2020Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK trả lời khiếu nại của ông N với nội dung:Việc khiếu nại của ông Trần Văn N là không có căn cứ.Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố N xác nhận biến độngtrang 4 GCNQSDĐ số AC701110 ngày 10/11/2017 là đúng quy định.

Hội đồng xét xử xét thấy:Như đã phân tích, đánh giá cụ thể tại mục [2]việc xác nhận biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố Ntại trang 4 GCNQSDĐ số AC701110do UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005 có xác nhận biến động sang tên ông Trần Văn N được Phòng Tài nguyên và Môi trường xác nhận ngày 12/5/2010, với diện tích 44,5 m² (diện tích sử dụng chung: 23,4 m², diện tích sử dụng riêng 21,1 m²), chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Á Châu ngày 10/11/2017 theo Quyết định về việc giao tài sản cho người được thi hành án số 01/QĐ-CCTHADS ngày 30/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nlà đúng quy định của pháp luật. Ông Trần Văn N khiếu nại là không có căn cứ, Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Văn bản số 3734/STNMT-VPĐK trả lời khiếu nại của ông N với nội dung như trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N:Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Klà có căn cứ pháp luật.

Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N và yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Kkhông được chấp nhận nênông Trần Văn N và bà Trần Thị Kphải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193; điểm b khoản 2 Điều 298; điểm e khoản 1 Điều 303; khoản 1 Điều 307; Điều 348; Điều 351 Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ điểm k khoản 4 Điều 95; điểm k khoản 1 Điều 99; khoản 3 Điều 105; khoản 1 Điều 167;khoản 1 Điều 168; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 37Nghị định 43/2014/NĐ-CP;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 17; Điều 19 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT;

Căn cứ khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT;

Căn cứ khoản 1 Điều 103; khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự 2008 (khoản 35; khoản 36 Điều 1 Luật SĐBS năm 2014)

Căn cứkhoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định hành chính gồm:

1.1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC701110 của UBND thành phố N cấp ngày 12/7/2005, đối với phần xác nhận trên trang 4 về việc xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

1.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốCU 330743 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B. Địa chỉ: 31 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, thành phố N, tỉnh N.

2.Bác toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Trần Thị K về việc yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định hành chính gồm:

2.1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 894879của UBND thành phố N cấp ngày 05/11/2007, đối với phần xác nhận trên trang 4 về việc xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

2.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 332922của UBND thành phố N cấp ngày 18/02/2009, đối với phần xác nhận trên trang 4 về việc xác nhận biến động chuyển quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ngày 10/11/2017.

2.3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 330699 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B. Địa chỉ: 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N.

2.4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 330744 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 26/8/2020 cho bà Nguyễn Thị B. Địa chỉ: 31 Trần Hưng Đạo, phường T, thành phố N, tỉnh N.

3. Về án phí: ÔngTrần Văn N, bà Trần Thị K mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Trần Văn Nđã nộp tại Biên lai thu tiền số 0005670 ngày 23/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh N và số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Trần Thị Kđã nộp tại Biên lai thu tiền số 0005733ngày 09/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nđều được đối trừ.

4. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ