- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Q (tên gọi khác: Không) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2023/HSST Ngày: 23-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Thanh Tùng
2. Bà: Vanh Si Tha
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:
Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử s th m công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/HSST, ngày 06 tháng 02 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Lâm Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05-12-2002 huyện Tri Tôn, t nh n Giang.
N i cư trú: Khóm 3, thị trấn T, huyện T1, t nh n Giang; n i ở: Khóm 3, thị trấn T, huyện T1, t nh n Giang số CCCD: 089202000***; nghề nghiệp: Bán vé số; trình đ văn hóa: lớp 4/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn G, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; anh em có 07 người, bị cáo là người thứ ba; tiền án: Không; tiền sự: Không; Ngày 08-12-2017 bị Tòa án nhân dân t nh n Giang xử phạt 05 năm tù về t i “Hiếp dân trẻ em”, chấp hành xong hình phạt ngày 02-02-2021 (phạm t i khi chưa đủ 16 tuổi); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-11-2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH Liên Doanh NTR CO; địa ch : Đường t nh 955B, ấp Rò Leng, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, t nh n Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Liên Doanh NTR CO: Ông Trần Minh X, sinh năm 1982; chức vụ: Trưởng Phòng ch n trị Đông y; địa ch : Đường t nh 955B, ấp R, xã C, huyện T, t nh n Giang (Giấy ủy quyền số 03/GUQ-CTY, ngày 27/11/2022). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lâm Văn G, sinh năm 1972; địa ch : Khóm 3, thị trấn T, huyện T, t nh n Giang (có mặt)
- Người làm chứng:
Ông Lê Văn L, sinh năm 1964; địa ch : Ấp , xã C, huyện T, t nh n Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 26-11-2022, Lâm Văn Qbiết Phòng chu n trị Đông y của Công ty TNHH Liên doanh NTR CO, thu c ấp Rò Leng, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, t nh n Giang có 01 thùng tiền từ thiện bằng kính bên trong trong có nhiều tiền, nên nảy sinh ý định lấy tr m. Để thực hiện, Quý đi xe đạp lại dựng bên ngoài cửa rào, rồi đ t nhập vào khuôn viên, leo qua cửa thông gió vào Phòng chu n trị Đông y lấy tr m 01 thùng tiền (bên trong có 14.900.000 đồng), Quý ôm thùng tiền và thoát ra ngoài bằng đường cửa sau, rồi để thùng tiền lên xe đạp chở đến đoạn đường vắng cách khoảng 100m đập bể kính lấy số tiền 14.900.000 đồng bỏ vào bọc nylon cất giấu gần khu vực nhà trọ Mỹ Linh thu c khóm 3, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, t nh n Giang. Sau khi phát hiện bị mất tr m thùng tiền, ông Trần Minh X (người được giao quản lý Phòng chu n trị Đông y) trình báo đến công an xã Châu Lăng. Qua mời làm việc, Quý khai nhận hành vi lấy tr m thùng tiền từ thiện và giao n p số tiền 14.900.000 đồng.
Đến ngày 27-11-2022, Quý bị khởi tố, bắt giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 14.900.000 đồng; 01 thùng đựng tiền từ thiện bị vỡ kính; 01 chiếc xe đạp màu xám; 01 áo thun dài tay màu xanh, cổ áo có viền màu trắng; 01 quần thun dài màu đen, dọc bên ngoài hai ống quần có viền màu xanh dài từ trên xuống.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lâm Văn Qkhai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình:
Bị cáo Lâm Văn Q khai: Bị cáo thường bán vé số tại khu vực Công ty đá ANTRACO, ngày 24-11-2022, bị cáo bán vé số cho người khách tại Phòng chu n trị Đông y, tại đây bị thấy có 01 thùng tiền từ thiện bằng kính, trong thùng có rất nhiều tiền để ở góc bên phải của Phòng thuốc. Sau đó khoảng 19 giờ ngày 26-11-2022 khi đang ở nhà bị cáo nảy sinh ý định đến Phòng chu n trị Đông y để lấy tr m thùng từ thiện, bị cáo lấy chiếc xe đạp màu xám của gia đình để đi lấy tr m gia đình bị cáo không biết. Khi đến, bị cáo nhặt 01 bao xi măng, do trước đo bị cáo có thấy trước Phòng chu n trị Đông y gắn 01 camera hướng vào trong Phòng chu n trị Đông y, bị cáo dùng bao xi măng để che camera lại, còn xe đạp bị cáo dựng trước hàng rào. Khi bị cáo vào Phòng chu n trị Đông y cửa bị khóa, bị cáo leo vào bằng đường thông gió, khi đến n i bị cáo có đi kiểm tra nhưng không có ai, sau đó bị cáo đến chỗ để thùng tiền từ thiện, lấy tr m thùng từ thiện bên trong có tiền và ôm ra ngoài chỗ đậu xe đạp, bị cáo cởi áo thun trùm lên thùng tiền từ thiện để sau yên xe đạp chở đi, bị cáo chạy đến đoạn đường vắng cách khoảng 100m đạp bể kính lấy số tiền 14.900.000 đồng, trong thùng có các loại tiền mệnh giá 50.000 đồng; 20.000 đồng; 10.000 đồng rồi bỏ vào bọc nylon cất giấu gần khu vực nhà trọ Mỹ Linh thu c khóm 3, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, t nh n Giang. Qua đến ngày 27-11-2022 bị cáo đi bán vé số thì bị lực lượng công an mời làm việc, bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i.
Bị hại: Ông Trư ng Minh X là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Liên Doanh NTR CO khai: Ông được Công ty TNHH Liên Doanh NTR CO giao quản lý Phòng chu n trị Đông y, ông làm công việc là mỗi ngày ông mở của cho khách vào hốt thuốc nam, cuối ngày đóng cửa. Khoảng 7 giờ 00 phút, ngày 27-11-2023 ông đến Phòng chu n trị Đông y làm việc như thường lệ, đang ngồi uống trà, phát hiện thùng tiền từ thiện bị mất. Ông đã báo công an và nhờ trích xuất dữ liệu camera thì phát hiện có 01 thanh niên vào lấy tr m thùng tiền từ thiện tên Quý bán vé số khu vực gấn Công ty TNHH Liên Doanh ANTRACO, trước đó có tặng gạo cho Quý vào ngày 26-11-2022. Thùng từ thiện 01 năm sẽ được kiểm tra 01 lần vào dịp gần tết nguyên đán, đợt kiểm tra vừa rồi trong thùng có khoảng 15.000.000 đồng. Hiện nay ông đã nhận lại số tiền 14.900.000 đồng và nhận lại 01 thùng từ thiện kính bị vỡ, không yêu cầu bồi thường, xin được giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Người làm chứng: Ông Lê Văn L khai: Ông làm nhiệm vụ phát thuốc cho người đến khám bệnh, thùng tiền từ thiện do Ban giám đốc Công ty giao cho ông Trư ng Minh Xuân quản lý, ông không biết cụ thể số tiền trong thùng là bao nhiêu, số tiền này do những người đến xin thuốc nam góp vào để mua thuốc phát cho người dân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn G khai: Ông là cha ru t của bị cáo Quý, xe đạp mà bị cáo dùng lấy tr m là của ông mua để bị cáo chạy bán vé số hàng ngày. Việc bị cáo dùng xe đạp đi lấy tr m tiền thùng từ thiện của Phòng chu n trị Đông y, ông không biết.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lâm Văn Q đủ yếu tố cấu thành t i Tr m cắp tài sản.
Căn cứ kết luận giám định số 449/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 05-01-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh n Giang, kết quả: Trích xuất 08 (tám) ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu ) do C quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tri Tôn gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, ch nh sửa trên tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản của H i đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSTT.HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Lâm Văn Q về t i “Tr m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận t i và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Văn Qtừ 01 (m t) năm đến 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “Tr m cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu c thành phần lao đ ng nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, không đặt ra xem xét.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại 01 chiếc xe đạp màu xám cho ông Lâm Văn Giáo; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo thun dài tay màu xanh, cổ áo có viền màu trắng; 01 quần thun dài màu đen, dọc bên ngoài hai ống quần có viền màu xanh dài từ trên xuống, xét đây là vật chứng không có giá trị, bị cáo không có yêu cầu nhận lại.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Tri Tôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 26-11-2022 bị cáo Lâm Văn Q đã có hành vi lén lút lấy tr m số tiền 14.900.000 đồng của Phòng chu n trị Đông y thu c Công ty Liên doanh NTR CO, do ông Trần Minh X quản lý.
Xét thấy, lời khai nhận t i của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại C quan điều tra và cũng phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, cũng như bản kết luận giám định số 449/KL-KTHS (KTSĐT-GT) ngày 05-01-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an t nh n Giang. Từ đó, H i đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo Lâm Văn Qđã có hành vi lén lút lấy tr m số tiền 14.900.000 đồng của Phòng chu n trị Đông y thu c Công ty Liên doanh ANTRACO, do ông Trần Minh X quản lý. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lâm Văn Qđã cấu thành t i tr m cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự.
Xét về tính chất, mức đ phạm t i của bị cáo thấy rằng: Nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo Lâm Văn Qđã lợi dụng sự s hở bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy tr m tài sản là số tiền số tiền 14.900.000 đồng của Phòng chu n trị Đông y thu c Công ty Liên doanh ANTRACO, do ông Trần Minh X quản lý. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật từ tại địa phư ng, cần xử phạt m t mức án tư ng xứng với hành vi phạm t i của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã h i và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo H i đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Lâm Văn Qlà người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo không lo làm ăn, lười lao đ ng muốn hưởng thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bản thân. Trước đó ngày 08-12-2017 bị Tòa án nhân dân t nh n Giang xử phạt 05 năm tù về t i “Hiếp dâm trẻ em”, chấp hành xong hình phạt ngày 02-02-2021 (phạm t i khi chưa đủ 16 tuổi), tuy không có án tích nhưng thời gian từ khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù đến ngày 26-11-2022 bị cáo thực hiện hành vi tr m cắp tài sản, việc này cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, nên cần áp dụng hình phạt tư ng ứng với hành vi phạm t i của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa bị cáo có thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải giao n p số tiền 14.900.000 đồng; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự nên H i đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 B luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu c thành phần lao đ ng nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên H i đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
5 Về tang vật chứng vụ án: Quá trình điều tra C quan điều tra đã thu giữ: Số tiền 14.900.000 đồng; 01 thùng đựng tiền từ thiện bị vỡ kính; 01 chiếc xe đạp màu xám; 01 áo thun dài tay màu xanh, cổ áo có viền màu trắng; 01 quần thun dài màu đen, dọc bên ngoài hai ống quần có viền màu xanh dài từ trên xuống.
Đối với số tiền 14.900.000 đồng; 01 thùng đựng tiền từ thiện bị vỡ kính đã trả lại cho bị hại là phù hợp.
H i đồng xét xử cần áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng như sau: Đối với: 01 chiếc xe đạp màu xám, xét đây là tài sản của ông Lâm Văn Giáo, việc bị cáo Quý dùng xe đi lấy tr m ông Giáo không biết nên tuyên trả lại cho ông Lâm Văn Giáo là phù hợp. Đối với 01 áo thun dài tay màu xanh, cổ áo có viền màu trắng; 01 quần thun dài màu đen, dọc bên ngoài hai ống quần có viền màu xanh dài từ trên xuống, xét đây là vật chứng không có giá trị, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tuyên bố tịch thu để tiêu hủy là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường, nên H i đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí hình sự s th m. Nhưng gia đình bị cáo có sổ h nghèo và bị cáo có đ n xin miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326 năm 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. H i đồng xét xử quyết định xét miễn án phí hình sự s th m cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Q (tên gọi khác: Không) phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Văn Q 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-11-2022 (ngày hai mư i tám, tháng mười m t, năm hai ngàn không trăm hai mư i hai).
Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 B luật Hình sự và Điều 106 B luật tố tụng Hình sự.
Tuyên bố tịch thu để tiêu hủy: 01 áo thun dài tay màu xanh, cổ áo có viền màu trắng; 01 quần thun dài màu đen, dọc bên ngoài hai ống quần có viền màu xanh dài từ trên xuống.
Tuyên trả lại cho ông Lâm Văn G 01 chiếc xe đạp màu xám.
(Toàn b tang vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-02-2023).
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Bị cáo Lâm Văn Q được miễn n p tiền án phí hình sự s th m.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Đư ng sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, từ nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tri Tôn (2); - T ND t nh n Giang (1); - Sở Tư pháp t nh n Giang (1); - C quan TH HS, HTTP (2); - Phòng hồ s (1); - Chi cục TH DS huyện Tri Tôn (1); - B phận TH HS Tòa án (1); - Bị cáo; - Đư ng sự; - Lưu hồ s , - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Nữ Ngọc Lan |