vanban.org

Bản án 06/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quang Cảnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Quang Cảnh T 01 (một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 61/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, buộc Quang Cảnh Tài phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quang Cảnh T và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quang Cảnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HSST
Ngày 27/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tường

Ông Vy Hoàng Hà

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST–HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Quang Cảnh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/01/2004 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Nh, xã Ch, huyện Q, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quang Cảnh D và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích”; Tam giữ, tạm giam: Từ ngày 10/11/2022 đến nay (Có mặt)

2. Kim Văn H; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/6/2004 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm C, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kim Văn A và bà Cao Thị L; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2022 đến ngày 19/11/2022 (Có mặt)

+ Bị hại: Chị Sầm Minh Thư, sinh năm 2004 Nơi cư trú: Bản Nhang Thắm, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Ngô Thị Thảo, sinh năm 1996 Nơi cư trú: Xóm Tân Mỹ, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm 1975 Nơi cư trú: Thôn Đông Tây Hải, xã Hoằng Hóa, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 30/10/2022, bị cáo Quang Cảnh T đi đến nhà chị Sầm Minh Thư chơi. Khi đến nhà, thấy chị Thư đang ngủ và quan sát trên đầu giường ngủ của chị Thư có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Tài lấy trộm chiếc điện thoại rồi đi đến nhà Kim Văn H chơi. Tại đây, H có mượn điện thoại T trộm cắp để dùng và có hỏi điện thoại của ai thì T bảo điện thoại mượn của chị gái. Trong lúc H đang sử dụng điện thoại thì có cuộc điện thoại gọi đến hiển thị tên "Chị Mẹ", H có nói với T có cuộc gọi đến thì T hốt hoảng bảo H tắt máy và lấy lại điện thoại. Lúc này, H biết được chiếc điện thoại này do T trộm cắp mà có. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T rủ H đi bán chiếc điện thoại trộm cắp thì H đồng ý. Sau đó H chở T xuống khu vực ngã ba Săng lẻ để bán điện thoại. Khi đến quán điện thoại di động Hạnh Đào ở xóm Tân Mỹ, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, H cầm điện thoại vào quán bán còn T đứng ngoài đợi. Khi vào quán điện thoại, H đã bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax cho chị Ngô Thị Thảo với giá 13.500.000 đồng. Do không có đủ tiền mặt nên chị Thảo đã đưa cho H số tiền mặt 11.500.000 đồng và chuyển vào tài khoản ngân hàng của H số tiền 2.000.000 đồng. Bán được điện thoại, H đi ra nói với T số tiền bán điện thoại được 11.500.000 đồng rồi đưa cho T số tiền 11.500.000,đ, sau đó T đưa lại cho H số tiền 1.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được từ việc bán chiếc điện thoại trộm cắp được, T và H đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua được điện thoại với H, buổi chiều cùng ngày chị Thảo đã bán chiếc điện thoại này cho ông Nguyễn Văn Mạnh với giá 15.000.000,đ. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 10/11/2022, T và H đã đến Công an huyện Quỳ Hợp đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 135/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Quỳ Hợp kết luận: 01 chiếc điện thoại di động có màu xanh dương, nhãn hiệu Iphone, kiểu máy Promax, đặc điểm viền máy có một vài vết xước, máy đã qua sử dụng, trị giá 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Quang Cảnh T đã bồi thường cho chị Sầm Minh Thư chiếc điện thoại di động trị giá 10.000.000,đ, nay chị Thư yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tiếp số tiền 3.500.000,đ.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-QH ngày 13/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Quang Cảnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Kim Văn Hợp về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Quang Cảnh T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo tại bản án số 61/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, buộc Quang Cảnh T phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt Kim Văn H từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Sầm Minh Thư đã được bị cáo T bồi thường chiếc điện thoại di động trị giá 10.000.000,đ. Nay chị Thư yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tiếp số tiền 3.500.000,đ nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T phải bồi thường tiếp số tiền 3.500.000,đ cho chị Thư. Đề nghị tuyên tịch thu số tiền thu lợi bất chính 3.000.000,đ từ bị cáo Kim Văn H; Về án phí: Bị cáo Quang Cảnh T, Kim Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Quang Cảnh T, Kim Văn H nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về Tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được tại hồ sơ vụ án; Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 30/10/2022, tại nhà ở của chị Sầm Minh Thư, tại Bản Nhang Thắm, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, Quang Cảnh T có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động của chị Sầm Minh Thư, trị giá 13.500.000 đồng. Khoảng 14 giờ cùng ngày Kim Văn H tuy không hứa hẹn trước nhưng biết được chiếc điện thoại di động do Quang Cảnh T trộm cắp mà có nhưng vẫn đưa chiếc điện thoại di động đi bán được số tiền 13.500.000 đồng.

Hành vi trên của Quang Cảnh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của Kim Văn H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Quang Cảnh T và Kim Văn H là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của Quang Cảnh T xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành vi của Kim Văn H không chỉ trực tiếp xâm hại trật tự công cộng, trật tự pháp luật mà còn gây trở ngại lớn cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quang Cảnh T tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Kim Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo Quang Cảnh T: Bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú; Bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó cần áp dụng để giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với bị cáo Kim Văn H: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú. Những tình tiết trên cần được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Quang Cảnh T đã bồi thường cho chị Sầm Minh Thư chiếc điện thoại di động trị giá 10.000.000,đ. Nay chị Thư yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tiếp số tiền 3.500.000,đ. Xét thấy yêu cầu của chị Thư là phù hợp với quy định pháp luật, tại phiên tòa bị cáo T nhất trí bồi thường cho chị Thư số tiền 3.500.000,đ và xuất trình biên lai nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Thư để buộc bị cáo T bồi thường.

Đối với Kim Văn H thu lợi số tiền 3.000.000,đ từ việc bán điện thoại trộm cắp, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với chị Ngô Thị Thảo là người mua tài sản với bị cáo Kim Văn H nhưng chị Ngô Thị Thảo không biết tài sản do phạm tội mà có, do đó không xem xét xử lý đối với chị Ngô Thị Thảo.

Đối với ông Nguyễn Văn Thịh là người mua lại chiếc điện thoại di động với chị Ngô Thị Thảo. Quá trình điều tra xác định hiện nay ông Mạnh không có mặt tại địa phương nơi cư trú, do đó Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Quang Cảnh T và Kim Văn H không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản giá trị. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Quang Cảnh T và Kim Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quang Cảnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt: Quang Cảnh T 01 (một) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015

Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 61/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, buộc Quang Cảnh Tài phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/11/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Kim Văn H 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Kim Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Quang Cảnh T chịu trách nhiệm bồi thường cho chị Sầm Minh Thư số tiền 3.500.000,đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền trên được khấu trừ trong số tiền 3.500.000,đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo Quang Cảnh T đã tự nguyện bồi thường theo biên lai thu số 0006308 ngày 27/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ bị cáo Kim Văn H là 3.000.000,đ (ba triệu đồng).

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Quang Cảnh T, Kim Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo; vắng mặt bị hại, 02 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ