vanban.org

Bản án 06/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum Tuyên án 10/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo AT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo AT 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (26/12/2022). Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,buôc bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trôm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo AT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HSST
Ngày: 11/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoa Như.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Bông và bà Y Bé.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Thư ký Toà án .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2023/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên AT; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/02/2002 tại Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: Thôn Kei Joi, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Con ông A Jong và bà Y Prưng(đều đã chết); Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại Bản án số 06/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tuyên phạt bị cáo AT phạm tội trộm cắp tài sản, mức án 09 tháng tù. AT vừa chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 05 năm 2022. Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh AN, sinh năm 1995, trú tại: Thôn Đăk Rao Lớn, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 03/9/2022, bị cáo AT bắt xe buýt từ thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi đi xuống huyện Đăk Tô để trộm cắp tài sản. Khi đến bùng binh đoạn thuộc khối 10 thị trấn Đăk Tô, bị cáo xuống xe đi bộ vào thôn Đăk Rao Lớn, thị trấn Đăk Tô. Tại đây bị cáo thấy một người đàn ông (tên AN) điều khiển xe mô tô từ trong nhà đi ra ngoài đường chính. Bị cáo thấy xe mô tô không có chìa khóa vẫn hoạt động được nên xác định sẽ lấy trộm chiếc xe này. Sau đó bị cáo đi loanh quanh khu vực nhà AN đợi AN đi về để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo lén lút đi vào nhà AN thì thấy chiếc xe đang dựng bên hông nhà không người trông coi, đèn báo số trên mặt xe vẫn sáng đèn, bị cáo liền dắt xe ra ngoài đường, sau đó nổ máy, điều khiển xe mô tô về nhà tại thôn Kei Joi, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum và sử dụng làm phương tiện đi lại.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-ĐGTS ngày 27/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô kết luận chiếc xe mô tô do bị cáo AT trộm cắp được trị giá: 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo AT về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo AT từ 09 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại - AN đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra. Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí, và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Tô, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ để xác định:

Vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 03/9/2022 tại thôn Đăk Rao Lớn, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô là do bị cáo AT thực hiện. Vì muốn có xe mô tô để làm phương tiện đi lại nên bị cáo AT đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong quản lý tài sản để chiếm đoạt xe mô tô của bị hại AN. Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô kết luận xe mô tô mà bị cáo AT trị giá 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Hành vi của bị cáo AT đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để khẳng định, bị cáo AT đã có hành vi trộm cắp tài sản. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng tặng là “Tái phạm” quy định điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa người bị hại khai không bị thiệt hại về tài sản, tinh thần do hành vi trộm cắp của bị cáo; giá trị tài sản trộm cắp không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và lỗi của bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Bản thân bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tiếp tục cải tạo bản thân.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại - AN đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng đối với xe mô tô mang BKS 82F1 – 012.09 bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo AT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo AT 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (26/12/2022).

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,buôc bị cáo AT bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/4/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ