vanban.org

Bản án 06/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo A Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134, với tình tiết quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; Điều 38, Điều 50; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo A Ph 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN ĐẮK HÀ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HSST
Ngày: 14/02/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KONTUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trọng Hàn

Các Hội thẩm nhân: 1. Ông Vũ Văn Linh.

2. Bà Phạm Thị Giang.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 30/01/2023 đối với:

- Bị cáo: A Ph(tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 02 năm 2002, tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Thôn Long Loi, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Rơ Ngao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: A Y, sinh năm 1959 và bà Y Tik, sinh năm 1960. Cha, mẹ hiện làm nông và sinh sống tại Thôn Long Loi, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Bị cáo sinh sống như vợ chồng với chị Y Minh, sinh năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn; Có 01 con tên A Phước, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Hoàng Thanh S, sinh năm 2008. Địa chỉ: Tổ dân phố 4A, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Thanh T (Cha đẻ của bị hại), sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố 4A, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Anh K, sinh năm 2004. Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn Đăk

Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Ông A Y, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn Long Loi, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 04/01/2022 A T (sinh năm 2000; trú tại thôn Long Loi, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum) điều khiển xe mô tô mang biển kiếm soát 82B1-55451 chở A Phngồi phía sau đi từ thôn Long Loi, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà đến quán ốc vỉa hè phía trước tường tiểu học Kim Đồng thuộc tổ dân phố 3, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Khi đi đến khu vực tượng đài phía trước trường tiểu học Kim Đồng thì bị một số thanh niên lạ mặt ném đá về phía mình nhưng không trúng, sau đó A Phvà A T đi vào quán ốc để ăn uống. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày khi đang ăn ốc thì A Phđi lại nơi dựng xe mô tô biển kiểm soát 82B1-55451 mở cốp xe lấy ra một ná cao su và một túi ni lông bên trong có đựng các viên bi sắt bỏ vào túi quần bên trái và quay lại gặp A T nói với A T chở qua nơi đám thanh niên (trước đó có ném đá về phía A Phvà A Ta) để nói chuyện, A T đồng ý và chở A Phđi đến phía trước quán cà phê “Đại Nghĩa” thuộc tổ dân phố 7, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum thì dừng xe mô tô, A Phxuống xe mô tô và đi bộ về phía nhóm thanh niên, khi đến gần, A Phnói “Sao hồi nãy bọn mày dí tao”, vừa nói xong thì Trần Anh K (sinh năm 2004; trú tại tổ dân phố 7, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà) dùng dép ném trúng người A Phi, một số thanh niên khác sử dụng đá để ném về phía A Phnhưng không trúng. A Phlấy ná cao su và bi sắt từ trong túi quần đang mặc ra, kéo ngang ngực và bắn về phía nhóm thanh niên 3 phát, 2 lần đầu tiên A Phbắn không trúng ai đến phát bắn thứ 3 thì A Phngắm và bắn thẳng về phía ngực của Hoàng Thanh S (sinh năm 2008; trú tại tổ dân phố 4a, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà) vì nghĩ S là người trước đó đã cầm đá ném mình, lúc này Hoàng Thành S kêu lên rồi ôm mặt ngồi xuống. Sau đó A Phquay lại nói với A T chở đi về nhà, trên đường về A Phcó kể cho A T nghe “Ê mày lúc nãy tao bắn ná cao su trúng thằng kia mà không biết trúng ở đâu”, rồi A Phvà A T đi về nhà. Hoàng Thanh S được đưa trung tâm y tế huyện Đăk Hà để điều trị vết thương. Sau đó chuyển điều trị tại đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh

- Ngày 05/01/2022, ông Hoàng Văn K (là ông nội của S) gửi đơn trình báo đến Công an thị trấn Đăk Hà để trình báo sự việc trên. Sau khi tiếp nhận nguồn tin và tiến hành các hoạt động xác minh ban đầu, ngày 06/01/2022, Công an thị trấn Đăk Hà chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 39/TgT-TTPY, ngày 19/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn S kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo cung mày trái kích thước nhỏ : 03%.

- Khuyết xương hộp sọ cạnh bờ trên ngoài hốc mắt trái đường kính dưới 02

cm: 16%.

- Tụ máu dưới màng cứng không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán

hình ảnh: 08%.

- Tổn thương dịch hóa ở nhu mô thùy trán trái, tổn thương này có đường kéo dài đến vị trí dị vật cản quang: 16%.

- Dị vật cản quang hình tròn dạng viên bi, có tỉ trong ngang kim loại ở vùng đồi thị bên trái: 21%.

- Yếu, liệt 1/2 người phải không hoàn toàn mức độ nhẹ: 23%.

2. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế: Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 61,69% làm tròn 62% (Viết bằng chữ: Sáu mươi hai phần trăm).

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu:

- 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 82B1-55451, màu xanh, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu GLAD, xe mô tô đã qua sử dụng;

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 038948, mang tên chủ sở hữu Nguyễn Thành Tâm; 01 (một) giấy bán xe;

- 01 (một) ná cao su có đặc điểm chạc cầm hình chữ Y, bằng gỗ, màu vàng, dài 12,7cm, đường kính phần lớn nhất 2,8cm, đường kính phần nhỏ nhất 1,5cm, phần trên chạc chữ Y có gắn 2 đoạn dây thun cao su dẹp 1,5cm, đầu hai đoạn dây thun được cột chặt trên hai đầu chạc hình chữ Y bằng dây thun cao su màu đen nhỏ, hai đầu thun còn lại được cột vào một đoạn da công nghiệp kích thước 01x4,5cm, hai đoạn dây thun có màu cam và vàng, đã qua sử dụng.

- Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ một viên bi hình cầu, làm bằng kim loại đường kính 0.7cm.

Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra thì A Phđã tác động gia đình đến thăm hỏi động viên và hỗ trợ cho gia đình Hoàng Thanh S số tiền 7.900.000đ (bảy triệu chín trăm ngàn đồng). Ngày 05/01/2023 gia đình bị cáo A Phđã bồi thường thiệt hại cho gia đình cháu Hoàng Thanh S số tiền 25.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại là ông Hoàng Thanh T (bố của S là người đại diện hợp pháp của Hoàng Thanh S) và đại diện gia đình bị cáo là ông A Y (bố đẻ của bị cáo A Ph) đã thống nhất thỏa thuận về số tiền bồi thường còn lại là 75.000.000 đồng, ông A Y sẽ có trách nhiệm trả dần từ tháng 02/2023 cho đến tháng 12/2024 sẽ trả hết số tiền trên.Các bên thống nhất tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết trong vụ án hình sự này.

Cáo trạng số 37/CT-VKSDH ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố bị cáo A Phvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 với tình tiết quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà,tỉnh Kon Tum giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo A Phphạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134, với tình tiết quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo A Phmức án từ 05 đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/10/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại là ông Hoàng Thanh T (bố của S là người đại diện hợp pháp của Hoàng Thanh S) và đại diện gia đình bị cáo là ông A Y (bố đẻ của bị cáo A Phi) đã thống nhất thỏa thuận về số tiền bồi thường còn lại là 75.000.000 đồng, ông A Y sẽ có trách nhiệm trả dần từ tháng 02/2023 cho đến tháng 12/2024 sẽ trả hết số tiền trên. Các bên thống nhất không cùng giải quyết trong vụ án hình sự này, vì vậy không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo A Phkhông phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình là đúng với nội dung truy tố của bản Cáo trạng, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận giám định về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum. Không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời khai của những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đúng với những gì đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu luật sư, người bào chữa hay trợ giúp viên pháp lý để bào chữa cho mình. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo A Phkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án và bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 20 giờ ngày 04/01/2022 tại tượng đài thuộc Tổ dân phố 7, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, do bị bức xúc với hành vi ném đá và dép của nhóm thanh niên về phía mình nên A Phkhông kiềm chế được bản thân đã dùng ná cao su có gắn bi là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Hoàng Thanh S (sinh ngày: 29/3/2008) với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 62%. Vì vậy, A Phphải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, (với các tình tiết theo điểm a, c khoản 1 Điều 134 BLHS: Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ). Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội

Hành vi phạm tội của bị cáo A Phlà nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể quan trọng được pháp luật công nhận và bảo vệ đó là tính mạng, sức khỏe của công dân, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn Huyện Đăk Hà. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiệm trọng, dùng vũ khi nguy hiểm và thực hiện hành vi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi gây tổn thương cơ thể là 62% (Viết bằng chữ: Sáu mươi hai phần trăm). Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và sự phán quyết của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 32.900.000đ (Ba mươi hai triệu chín trăm ngàn đồng) cho gia đình bị hại; Gia đình bị cáo A Phcó bố là ông A Y là người có công với cách mạng được Ủy ban nhân dân huyện Đăk Hà, Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Hà tặng giấy khen và được Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các dân tộc; Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo; Ngoài ra gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo A Phi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có nơi cư trú rõ ràng.

Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã thật sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; việc bị cáo phạm tội cũng có lỗi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Anh K cùng một số đối tượng khác đã dùng dép, đá ném vào bị cáo; Gia đình người bị hại đã xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con bị cáo còn nhỏ (sinh năm 2021), vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, với tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử xét thấy, cần xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của A Ta: Việc A Phgây thương tích cho Hoàng Thanh S không có sự trao đổi, bàn bạc trước với A T và A T hoàn toàn không biết sự việc. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm đối với A T là hoàn toàn phù hợp.

Đối với hành vi của Trần Anh K: Trần Anh K và một số đối tượng khác đã có hành vi dùng đá, dép ném về phía A Ta, A Phi, không gây hậu quả đến mức phải xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt hành chính đối với Trần Anh K là hoàn toàn phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra A Phđã tác động gia đình bồi thường số tiền 32.900.000đ (Ba mươi hai triệu chín trăm ngàn đồng) cho gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại là ông Hoàng Thanh T (bố đẻ, là người đại diện hợp pháp của Hoàng Thanh S) và đại diện gia đình bị cáo là ông A Y (bố đẻ của bị cáo A Phi) đã thống nhất thỏa thuận về số tiền bồi thường còn lại là 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng), ông A Y sẽ có trách nhiệm trả dần cho gia đình bị hại từ tháng 02/2023 cho đến tháng 12/2024 sẽ trả hết số tiền trên. Các bên thống nhất tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết trong vụ án hình sự này. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thỏa thuận về trách nhiệm dân sự của hai bên gia đình là tự nguyện và phù hợp nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 82B1-55451, màu xanh, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu GLAD, xe mô tô đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 038948, mang tên chủ sở hữu Nguyễn Thành Tâm cùng với giấy bán xe đây là xe của bị cáo mua lại của anh Nguyễn Thành Tâm, bị cáo đã dùng xe trên để đi ngày 04/01/2022 và để ná cao su và cùng với các viên bi sắt là công cụ phạm tội vào cốp xe trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo xin nhận lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, chiếc xe không phải là công cụ phạm tội chính, bị cáo đã lấy ná cao su và một túi ni lông bên trong có đựng các viên bi sắt ra túi quần bên trái trước khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại, bên cạnh đó gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có phương tiện để đi lại. Xét, nguyện vọng của bị cáo là phù hợp, vì vậy cần chấp nhận.

- Đối với ná cao su có đặc điểm chạc cầm hình chữ Y, bằng gỗ, màu vàng, dài 12,7cm, đường kính phần lớn nhất 2,8cm, đường kính phần nhỏ nhất 1,5cm, phần trên chạc chữ Y có gắn 2 đoạn dây thun cao su dẹp 1,5cm, đầu hai đoạn dây thun được cột chặt trên hai đầu chạc hình chữ Y bằng dây thun cao su màu đen nhỏ, hai đầu thun còn lại được cột vào một đoạn da công nghiệp kích thước 01x4,5cm, hai đoạn dây thun có màu cam và vàng, đã qua sử dụng và một viên bi hình cầu, làm bằng kim loại đường kính 0.7cm. Đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo A Phkhông phải chịu án phí hình sự sơ thẩm được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo A Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134, với tình tiết quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; Điều 38, Điều 50; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo A Ph 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 13 tháng 10 năm 2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo A Phi: 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 82B1-55451, màu xanh, kiểu dáng Wave, nhãn hiệu GLAD, xe mô tô đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 038948, mang tên chủ sở hữu Nguyễn Thành Tâm; 01 (một) giấy bán xe;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) ná cao su có đặc điểm chạc cầm hình chữ Y, bằng gỗ, màu vàng, dài 12,7cm, đường kính phần lớn nhất 2,8cm, đường kính phần nhỏ nhất 1,5cm, phần trên chạc chữ Y có gắn 2 đoạn dây thun cao su dẹp 1,5cm, đầu hai đoạn dây thun được cột chặt trên hai đầu chạc hình chữ Y bằng dây thun cao su màu đen nhỏ, hai đầu thun còn lại được cột vào một đoạn da công nghiệp kích thước 01x4,5cm, hai đoạn dây thun có màu cam và vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) viên bi hình cầu, làm bằng kim loại đường kính 0.7cm.

(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 18/QĐ-VKSDH ngày 30/11/2022 của VKSND huyện Đăk Hà).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A Phi;

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (14/02/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ