- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Q Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Phan Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 06 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 302/2022/TLST-HS ngày 24/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phan Văn Q, sinh ngày: 10/9/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: khu định cư H.S, phường H.S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ may; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Võ Thị T; vợ: Hồ Thị L, con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn K, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số 01/252 T, phường T.L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Những người làm chứng:
+ Chị Phan Thị Thúy N, vắng mặt.
+ Chị Phan Thị H; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Q1; vắng mặt.
+ Chị Phan Thị T1; vắng mặt.
+ Anh Lê Quang T2; vắng mặt.
+ Anh Lê Quang H1; vắng mặt.
+ Anh Ngô Thành L1; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với nhau trong việc sử dụng mặt bằng kinh doanh tại khu đất trống ở C.H, phường T.L, thành phố H giữa ông Lê Văn K và vợ chồng con trai ông K là anh Lê Quang C1, chị Phan Thị Thu T3 nên hai cha con có lời qua tiếng lại với nhau. Khoảng 15 giờ ngày 03/02/2022, hai em gái của T3 là Phan Thị Thúy N, Phan Thị H và em rể Nguyễn Văn Q1 (chồng chị N) đến quán của C1 để can ngăn. Khi thấy N và H đến thì Phan Thị T1 là con dâu ông K (đang mang thai) sợ xảy ra xô xát nên cũng đi ra can ngăn. Sau khi lời qua tiếng lại thì giữa N, H và T1 xông vào nắm tóc và dùng tay chân đánh nhau, N và H dùng mũ bảo hiểm đánh vào người T1. Thấy vậy, Lê Quang T2 (con trai ông K) và Lê Quang H1 (chồng của T1) cùng vào can ngăn. Sợ T2 đánh vợ và em vợ mình nên Nguyễn Văn Q1 xông vào đuổi đánh T2. Sau khi can ngăn được 3 phụ nữ trên, H1 nhìn thấy T2 bị Q1 đuổi đánh nên chạy theo can ngăn thì xảy ra xô xát với Q1, H1 đã sử dụng 01 con dao Thái Lan cán vàng cầm sẵn trên tay gây thương tích cho Q1 ở vai và đầu. Sau đó, Q1 được đưa đến bệnh viện Trung ương cấp cứu, còn T1 được đưa đến bệnh viện Quân Y 268 để kiểm tra sức khỏe.
Sau khi nghe chị và em gái của mình là N và H kể lại sự việc xảy ra, một lúc sau Phan Văn Q tự lấy xe mô tô của Q1 để sẵn ở nhà, lấy một con dao làm bếp giấu vào cốp xe rồi điều khiển đi đến hiện trường là khu đất trống ở C.H. Khi thấy mọi người đang xô xát, Q lấy dao trong cốp xe ra định đuổi đánh người nhà ông K thì anh C1 can ngăn và đưa Q lên cầu C.H, Q vùng vẫy thoát ra rồi đuổi đánh Ngô Thành L1 (là con rể ông K) và ông K. L1 bỏ chạy đến cây xăng ở khu vực giữa cầu C.H và cầu B.Y thì Q không đuổi kịp nên quay lại thì thấy ông K ở gần đó nên Q đã dùng dao chém về phía ông K, ông K đi lùi phía sau để tránh thì ngã ngồi dưới đất. Q dùng dao chém nên ông K đưa tay phải lên đỡ thì trúng vào bàn tay gây thương tích. Sau đó, mọi người can ngăn đưa ông K đến bệnh viện Trung ương H cấp cứu, còn Q cũng bị thương ở vai phải và cung mày trái nên cũng được gia đình đưa đến bệnh viện Q.Y 268 cấp cứu.
* Về vật chứng: Sau khi sự việc xảy ra, những người tham gia đánh nhau đã vứt bỏ hung khí nên không thu giữ được.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 77-22/TgT ngày 14/3/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế Thừa Thiên Huế, kết luận đối với ông Lê Văn K:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Chấn thương gãy đốt 1 ngón 1 bàn tay phải: 3%.
Vết mổ ngón 1 bàn tay phải: 2%.
Sẹo phần mềm ngón tay 2 bàn tay phải: 1%.
Hiện tại nạn nhân đang còn đinh sắt cố định ngón nên chưa đánh giá được di chứng chức năng. Thời gian hình thành trong 10 ngày so với thời gian giám định.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 6%.
3. Vật gây, cơ chế hình thành, thời gian hình thành: Vật có cạnh sắc, tác động trên xuống, trước ra sau.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thất cơ thể số 203-22/TgT ngày 27/5/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế Thừa Thiên Huế, kết luận đối với ông Lê Văn K:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Giám định lần 1 tổng tổn thương cơ thể là 6%.
Giám định bổ sung: Chấn thương đứt gần lìa ngón 1 bàn tay phải đã điều trị phẫu thuật mất chức năng ngón 1 (tay thuận): 13%.
2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể chung hai lần giám định hiện tại là: 14%.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 101-22/TgT ngày 29/3/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế Thừa Thiên Huế, kết luận đối với Nguyễn Văn Q1:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm phải để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng: 2%.
Vết thương phần mềm vai cánh tay trái để lại sẹo (03 vết), không ảnh hưởng chức năng: 3%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 5%.
3. Vật gây, cơ chế hình thành, thời gian hình thành: Tổn thương vùng đầu do vật sắc tác động vào vùng đỉnh chẩm phải theo hướng từ sau ra trước, hơi chếch từ phải sang trái. Tổn thương vai cánh tay trái do vật sắc nhọn tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau. Các tổn thương có thời gian hình thành phù hợp với thời điểm xảy ra chấn thương vào ngày 03/02/2022.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 120-22/TgT ngày 06/4/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế Thừa Thiên Huế, kết luận đối với Phan Văn Q:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thương phần mềm cung mày trái, để lại sẹo nhỏ: 3%.
Vết thương phần mềm vai phải để lại sẹo nhỏ (02 vết): 2%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 5%.
3. Vật gây, cơ chế hình thành, thời gian hình thành: Tổn thương cung mày mắt trái do vật sắc tác động hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái. Tổn thương thủng da vai phải bao gồm 2 vết sát nhau: Do hai vật nhọn có cạnh tác động hướng từ sau ra trước, hơi chếch từ phải sang trái, từ trên xuống dưới; nó phù hợp với hung khí là hai mũi kéo gây nên. Thời gian hình thành tổn thương phù hợp với thời điểm xảy ra chấn thương vào ngày 03/02/2022.
Sau khi sự việc xảy ra, ngày 04/4/2022, Nguyễn Văn Q1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Đến ngày 26/5/2022 thì Q1 có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố này. Ngày 27/5/2022, Phan Văn Q cũng có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với thương tích của mình do người khác gây ra. Phan Thị T1 bị Phan Thị Thúy N và Phan Thị H đánh nhưng không bị thương tích gì nên từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố. Lê Quang T2, Lê Quang H1, Phan Thị Thúy N, Phan Thị H không bị thương tích gì nên không có yêu cầu gì.
Đối với Lê Quang H1 gây thương tích cho Nguyễn Văn Q1 nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 11/8/2022, Công an thành phố Huế đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 số tiền 5.000.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn K bị thương tích nhưng không yêu cầu Phan Văn Q phải bồi thường gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 318/CT-VKSTPH ngày 23/11/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Phan Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Lê Văn K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại Lê Văn K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Sau khi biết sự việc các chị em gái của mình với những người trong gia đình ông Lê Văn K xảy ra xô xát nhau tại khu đất trống ở C.H, phường T.L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khoảng 15 giờ ngày 03/02/2022, Phan Văn Q đã lấy một con dao làm bếp giấu vào cốp xe của anh rể là Nguyễn Văn Q1 rồi điều khiển đi đến hiện trường. Khi thấy mọi người đang xô xát, Q đã lấy dao trong cốp xe ra đuổi đánh con rể ông K là Ngô Thành L1 nhưng anh L1 chạy thoát được. Sau đó, Q quay lại dùng dao chém trúng vào bàn tay của ông K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Với hành vi đã gây ra, bị cáo Phan Văn Q đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo tại bản cáo trạng số 318/CT-VKSTPH ngày 23/11/2022 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Phan Văn Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính mạng, sức khỏe của người khác là vốn quý, được pháp luật bảo vệ và không ai được xâm phạm. Tuy nhiên, chỉ vì một mâu thuẫn, xâu ẩu rất nhỏ giữa các chị em gái của bị cáo và gia đình bị hại, bị cáo đã không can ngăn mà còn lấy dao là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần phải có một mức án đủ nghiêm để xử phạt bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt thì cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố:
Bị cáo Phan Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Q 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT – Huế (Phòng KTNV); - Phòng PV06 Công an tỉnh TT – Huế; - Sở Tư pháp; - VKSND thành phố Huế; - Công an thành phố Huế (Phòng THAHS); - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Bị hại, - Lưu HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |