vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 123 điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/08/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày: 27/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Phạm Nhật Thái.

: Ông Ngô Thanh Lý.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phương Trà – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974 tại Z, Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; con ông: P, sinh năm 1930 và bà Q (đã chết); vợ: R, sinh năm 1980, con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam từ ngày 15/08/2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Bà I, sinh năm: 1984; Cư trú tại: Thôn H, xã L, huyện Z, tỉnh Bình Định. (Có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. NLC1 - sinh năm: 1990; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (có mặt)

2. NLC2 – sinh năm: 2005; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (có mặt)

3. R, sinh năm: 1980; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (có mặt)

4. NLC3, sinh năm: 1967; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (có mặt)

5. NLC4, sinh năm: 1967; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)

6. NLC5, sinh năm: 1994; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)

7. NLC6, sinh năm: 1996; Cư trú tại: Thôn K, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/3/2022, ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 735, tờ bản đồ số 9, tại thôn M, xã Y, huyện Z, tỉnh Bình Định cho bà I, thửa đất này nằm sát nhà của ông Nguyễn Văn H là em con chú ruột của ông T. Trước đây, ông H có đổ đất nền cho thửa đất này cao lên và hiện tại ông H có để một số đồ đạc trên đất như máy bơm nước, thùng nhựa chứa nước, rơm rạ… Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/5/2022, bà I đi xe mô tô đến trước ngõ nhà ông H, bà I gọi ông H ra nói chuyện. Lúc này, ông H đang ngồi ở hè nhà, nghe bà I gọi nên ông H đi ra; bà I yêu cầu ông H dọn hết đồ đạc trên đất mà mình mới mua nhưng ông H nói: “Gọi ông T đến đền bù cho tôi số tiền mà tôi đã đổ đất nâng nền thửa đất đó lên rồi tôi mới dọn”. Bà I nói lại: “Ông không dọn thì tôi dọn hết, đốt hết”. Sau đó, ông H đi vào hè nhà ngồi, còn bà I dùng chân đạp cái lu đựng nước ngã xuống đất nhưng không bể. Tiếp đó, bà I cũng đi vào đến chỗ ông H ngồi dùng tay đẩy nhẹ ông H và nói “Giờ có dọn đồ không?”. Ông H không chịu dọn thì bà I quay ra dùng tay giật đứt dây điện nối máy bơm nước, lấy một đoạn tre đập vào thùng nhựa chứa nước màu xanh, rồi đến chỗ đống rơm dùng quẹt đốt đống rơm nhưng không cháy. Tiếp đó, bà I đi đến gốc cây sanh lấy một cây cuốc cuốc vào thùng nhựa chứa nước màu xanh và cầm cuốc bằng tay phải đi đến chỗ ông H đang ngồi, rồi dùng tay trái đẩy ông H ngã ra nền hè. Lúc này, ông H đứng dậy chạy đến gốc cây sanh nhặt một viên gạch (loại gạch ống 6 lỗ) cầm trên tay. Thấy vậy, bà I cầm cuốc đưa lên cao rồi cuốc về phía ông H một cái nhưng không trúng, lưỡi cuốc cắm xuống đất. Ông H cầm viên gạch trên tay phải ném một cái trúng vào vùng đỉnh trán của bà I. Tiếp đó, ông H chạy vào bếp lấy một con dao (dài 41cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao sắc bằng kim loại dài 28cm, nơi rộng nhất của lưỡi 05cm, mũi dao nhọn) rồi chạy ra đứng đối diện cách bà I khoảng 02m thì bà I tiếp tục cầm cây cuốc cuốc về phía ông H nhưng không trúng. Thấy vậy, ông H bực tức cầm con dao trên tay phải (tay cầm phần cán dao, lưỡi dao thẳng ngang, mũi dao hướng về phía trước) nhào đến đâm một nhát trúng vào bụng của bà I. Bà I bỏ cuốc xuống đất chạy về hướng chuồng bò thì ông H cầm dao đuổi theo. Khi chạy đến chuồng bò thì không có đường chạy nữa nên bà I quay người lại; lúc này, ông H đang chạy đến tay phải cầm dao đâm trúng vào vùng bụng bên phải của bà I. Sau đó, ông H rút dao ra cầm dao chạy vào hè nhà để dao ở đó, rồi lấy xe đạp đi đến Công an xã Y tự thú. Bà I được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Z, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định điều trị đến ngày 16/5/2022 thì xuất viện.

- Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 121/2022/PY-TgT ngày 09/06/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận đối với thương tích của I như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng trán không tổn thương sọ, nội sọ đã phẫu thuật khâu vết thương, điều trị. Hiện vùng trán phải vết thương để sẹo kích thước (3x0,2) cm.

- Vết thương vùng thượng vị không thấu bụng đã phẫu thuật khâu vết thương điều trị. Hiện vùng thượng vị để sẹo kích thước (8,5x0,5)cm.

- Vết thương bụng vùng hạ sườn phải xuyên thấu bụng chếch ra sau lưng phải gây thủng ruột non, thủng đại tràng góc gan đã phẫu thuật.

+ Mở rộng vết thương vào ổ bụng theo đường dưới sườn thấy ổ bụng nhiều máu, dịch tiêu hóa.

+ Kiểm tra thấy đứt đoạn ruột non cách góc hồi-manh tràng 20cm, cắt lọc hai đầu nối tận-tận.

+ Kiểm tra đoạn đại tràng góc gan bị thủng xuyên thành, di động đại tràng góc gan, đưa chỗ thủng đại tràng góc gan ra làm hậu môn nhân tạo.

+ Kiểm tra thấy đứt cân cơ, tụ máu khoang sau phúc mạc, vết thương xuyên ra sau lưng.

Hiện tại:

+ Hạ sườn phải để sẹo kích thước (1,5x0,2) cm.

+ Có vết mổ từ bụng phải đến rốn vòng lên đường trắng giữa tạo thành hình chữ “L” kích thước (18x0,7) cm.

+ Có hậu môn nhân tạo vùng bụng phải, hậu môn có phân.

+ Có sẹo vùng lưng phải kích thước (1x0,2) cm.

2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 76% (Bảy mươi sáu phần trăm).

3. Cơ chế hình thành vết thương: Khả năng do vật sắc nhọn tác động trực tiếp.

Tại Kết luận giám định số 200/KL-KTHS ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Định kết luận: Trên con dao dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, nơi rộng nhất của lưỡi 05cm, sống dao chỗ rộng nhất 0,4cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, cán dao bị nứt, lưỡi dao còn ướt, dính cát thu theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/5/2022 có dính máu người, do lượng mẫu ít nên không xác định được nhóm máu hệ ABO.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSBĐ-P1 ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội và để nghị: Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H với mức án từ 6 năm đến 7 năm tù.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho bà I theo quy định pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa bị cáo Nguyễn Văn H với bà I liên quan đến việc bị cáo Nguyễn Văn H không chịu dọn dẹp đồ đạc để trên đất của bà I nên giữa bà I và bị cáo xảy ra cãi vã. Bà I đã đe dọa và dùng tay giật đứt dây điện máy bơm nước, lấy đoạn tre đập thùng chứa nước... của bị cáo. Bực tức trước việc bà I đập phá đồ đạc, đẩy ngã và dùng cuốc đánh mình nên bị cáo đã dùng một viên gạch ném trúng đầu bị cáo. Bà I bực tức nên cầm cuốc cuốc về bị cáo, bị cáo Nguyễn Văn H đã dùng con dao đâm 02 nhát trúng vào vùng trọng yếu của cơ thể, có thể dẫn đến chết người. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà I là 76% do được cấp cứu kịp thời và ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật; đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tự trị tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi dùng dao đâm bà I, bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện ra Công an tự thú và xét thấy bà I cũng có lỗi gây ức chế cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại I yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 325.000.000 đồng, gồm: Chi phí tiền thuốc men, điều trị, phẩu thuật với tổng số tiền là 300.000.000 đồng, trong đó có 77.564.760 đồng là có hóa đơn, chứng từ. Chi phí tiền tàu, xe đi lại khám chữa bệnh: 5.000.000 đồng, chi phí phục hồi sức khỏe 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu thêm tiền công người nuôi và tiền mất thu nhập do nằm viện là 2 người x 4 tháng x 6.000.000đ/tháng = 48.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần 50 lần mức lương cơ sở là 1.490.000đ x 50 = 74.500.000đ. HĐXX xét thấy các chi phí thực tế, phù hợp quy định pháp luật được chấp nhận là: Chi phí điều trị có hóa đơn, chứng từ là 77.564.760 đồng; tiền tàu, xe đi lại 5.000.000 đồng; chi phí phục hồi sức khỏe 20.000.000 đồng; tiền công người nuôi và tiền mất thu nhập của bị hại là 48.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần là 74.500.000đ. Tổng cộng: 225.064.760đ.

Về xử lý vật chứng:

- Một con dao có đặc điểm: Một con dao dài 41cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, nơi rộng nhất của lưỡi 05cm, sống dao chỗ rộng nhất 0,4cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, cán dao bị nứt.

- Một cây cuốc dài 1,21m.

- Nhiều mảnh gạch vỡ.

Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 123 điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/08/2022.

2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584; 585; 586; 591 và 593 của BLDS: Bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường tiền sức khỏe bị xâm hại cho bị hại I số tiền là 225.064.760đ (Hai trăm hai mươi lăm triệu, không trăm sáu tư ngàn, bảy trăm sáu mươi đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Một con dao có đặc điểm: 01 (một) con dao dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, nơi rộng nhât của lưỡi 05cm, sống dao chỗ rộng nhất 0,4cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, cán dao bị nứt, lưỡi dính dung dịch không rõ, không màu. Vùng dung dịch có hướng kéo dài từ mũi dao đến cán dao dài 26,5cm.

- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

- Một cây cuốc dài 1,21m.

- Nhiều mảnh gạch vỡ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an tỉnh Bình Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 11.253.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS (2015) tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ