vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn H 07 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 14 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày 18-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Văn Thái

Bà Nguyễn Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà:

Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2022/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 và Thông báo về việc thay đổi lịch phiên tòa ngày 13 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn H, sinh năm 2002 tại huyện Yên D, tỉnh Bắc

Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố Minh P, thị trấn Nham B, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.(Có mặt

tại phiên tòa).

- Bị hại: Công ty TNHH điện tử Sung J Việt N.

Địa chỉ trụ sở: Lô FJ – 05, khu công nghiệp Song K - Nội H

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Chị Hoàng Thị Q, sinh năm

1992; địa chỉ: Thôn Tân P, xã Tân M, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Giáp Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Đông Am V, xã Việt L,

huyện Tân Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

2. Anh Trần Văn S, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Đông L, xã Tân M, thành

phố Bắc G, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

3. Anh Thân Văn Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Thành C, xã Tiền P,

huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

4. Chị Lê Kim C, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Nham B,

huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau: Nguyễn Tuấn H, sinh năm 2002 ở tổ dân phố Minh Phượng, thị trấn Nham B, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang là công nhân công ty TNHH điện tử Sung Jin Việt N (công ty Sung Jin), lô FJ-05, khu công nghiệp Song Khê- Nội H thuộc địa phận thôn Quyết T, xã Tiền P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. Hàng ngày H làm công việc nhận Thiếc nguyên liệu từ kho của công ty để phát cho bộ phận lắp ráp. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/9/2022, H đến kho của công ty lấy 50kg Thiếc nguyên liệu dạng thanh, kích thước mỗi thanh là (34x02x01)cm để phát cho xưởng “DIP” và xưởng lắp ráp của Công ty. Sau khi phát xong còn thừa khoảng 20kg Thiếc, nên H đem cất vào tủ tại xưởng lắp ráp ở tầng 2 của công ty, tủ này do chị Lê Kim C, sinh năm 1991 ở tổ dân phố 3, thị trấn Nham B, huyện Yên D quản lý và cầm chìa khoá tủ. Do buổi chiều cùng ngày, chị C bận công việc nên xin nghỉ và giao lại chìa khoá tủ cho H quản lý để lấy thiếc bàn giao cho ca đêm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi bàn giao Thiếc nguyên liệu cho ca đêm xong, thấy còn thừa một số thanh thiếc nguyên liệu, quan sát xung quanh không có ai, nên H nảy sinh ý định trộm cắp những thanh thiếc còn lại để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. H đi đến mở tủ lấy ra 15 thanh Thiếc gói vào áo đồng phục của công ty rồi đi ra vị trí cầu thang tầng 2, sau đó Hoàng gài 15 thanh Thiếc vào xung quanh cạp quần đang mặc rồi đi ra vị trí nhà để xe, lấy xe điều khiển xe mô tô ra về. Khi H đi đến khu vực cổng Công ty Sung J thì bị bảo vệ công ty kiểm tra, phát hiện báo Đồn Công an Quang C đến lập biên bản thu giữ 15 thanh Thiếc kim loại có tổng trọng lượng 6,2kg, bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên D giải quyết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 69 ngày 26/9/2022, của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên D kết luận: 15 thanh Thiếc kim loại màu trắng bạc, mỗi thanh có kích thước (34x2x1)cm, tổng trọng lượng 6,2kg, tổng trị giá 5.676.000đ.

Ngày 17/10/2022 , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên D đã trả

công ty Sung jin 15 thanh Thiếc kim loại và 01 áo đồng phục công nhân, do chị Hoàng Thị Q là đại diện theo uỷ quyền. Chị Q đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự, đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tuấn H.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 04/CT -VKSYD ngày 23 /12/2022 của Viện Kiểm sát

nhân dân huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản

Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được

triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên D sau khi phân tích, đánh giá

các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 07 đến 08 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 14 tháng đến 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn Hoàng cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nham B,

huyện Yên D, tỉnh Bắc G để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000

đồng.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an

huyện Yên D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người

làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.

. Xét về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/9/2022, tại công ty TNHH điện tử Sung J Việt Nam, địa chỉ ở lô FJ-05, khu công nghiệp Song Khê-Nội H, thuộc địa phận thôn Quyết T, xã Tiền P, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Tuấn H có hành vi trộm cắp 15 thanh Thiếc kim loại màu trắng bạc, mỗi thanh có kích thước (34x2x1)cm, tổng trọng lượng 6,2kg, tổng trị giá 5.676.000 đồng của công ty Sung J. Khi Hoàng đang vận chuyển tài sản trộm cắp được qua cổng Công ty thì bị bảo vệ phát hiện báo cơ quan Công an Đồn Quang C, Việt Y đến lập biện bản thu giữ tang vật, bàn giao cơ quan điều tra Công an huyện Yên D xử lý.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội : “Trộm

cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 04/CT - VKSYD ngày 23/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Nguyễn Tuấn H là đúng người, đúng tội.

. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi

phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tuấn H có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không phải chịu tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc

trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân

thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Nguyễn Tuấn H được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt, xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nơi cư trú ổn định, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương có thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành con người tốt.

. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo không có việc làm, thu nhập không

ổn định, không có tài sản riêng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Tuấn H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị

cáo bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình

sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65

Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn H 07 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án

treo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 14 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nham B, huyện

Yên D, tỉnh Bắc Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo

quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn

đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ