vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 19/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02(hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - Bị truy tố tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 102 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày 19/01/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH HƢNG YÊN

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh N

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị P - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Dƣơng Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên theo thủ tục rút gọn.

Đối với bị cáo: NGUYỄN THỊ H, sinh năm 1986.

Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Giớ i tinh: Nữ; Quốc

́ tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Vũ Thị L; Có chồng là Ngô Duy S và có 03 con, con lớn sinh năm 2008; con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2022 đến ngày 03/01/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi và nghĩ vụ liên quan:

- Anh Ngô Duy S, sinh năm 1980 - Có mặt

Trú tại: Thôn K, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

* Ngƣời làm chứng:

- Anh Đoàn Thế T, sinh năm 1982 - Vắng mặt

Trú tại: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1993 - Vắng mặt

Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/12/2022 tại khu vực đường ĐH92 thuộc địa phận thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Thị H có hành vi tàng trữ hàng cấm là 05 vật hình hộp là pháo nổ, được niêm phong kí hiệu là M1. Quá trình bắt giữ, H khai nhận: Bằng hình thức sử dụng mạng xã hội Facebook Mesenger, H mua 05 giàn pháo (loại giàn pháo 36 quả) với số tiền là 600.000đồng/01giàn với tổng giá trị là: 3.000.000đồng của một người không biết tên tuổi, địa chỉ, mục đích để sử dụng. Ngày 30/12/2022, sau khi H mua pháo của người đàn ông trên ở khu vực xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, H chằng pháo lên xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 89B1 - 258.28 để chở về nhà. Khi đến khu vực đường ĐH92 thuộc địa phận thôn L, xã Đ, huyện T thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng có liên quan.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị H trú tại Thôn K, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên qua khám xét không thu giữ quản lý gì.

Tại Bản kết luận giám định số 45/KL - KTHS ngày 02/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật trong niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định có tổng khối lượng là 7,75kg (Bẩy phẩy bẩy mươi lăm kilôgam), đều là pháo nổ, là loại pháo hoa nổ.

Đối với người đàn ông bán pháo cho H. Quá trình điều tra, công an huyện T không xác định được người đàn ông đó là ai, địa chỉ cụ thể như thế nào nên tách hành vi của người đó ra để tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ xem xét sẽ xử lý.

Vật chứng của vụ án:

+ 01 thùng catton được niêm phong ký hiệu M1 hoàn mẫu vật sau giám định đang được quản lý tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 89B1 - 258.28: Số khung: RLHJF461EZ160729; Số máy: JF46E-6086081 mang tên Nguyễn Thị H là công cụ phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Thị H do vợ chồng H mua từ khoảng cuối tháng 11/2015 đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKS - TL ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên đa trũ y tố đồng thời đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 09(chín) tháng đến 12(mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18(mười tám) tháng đến 24(hai mươi bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46; điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 102 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng catton dán kín kí hiệu M1 hoàn mẫu vật sau giám định đang được quản lý tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 89B1 – 258.28; Số khung: RLHJF461EZ160729; Số máy: JF46E-6086081 mang tên Nguyễn Thị H là công cụ phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Thị H do vợ chồng H mua từ khoảng cuối tháng 11/2015 nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước ½ và trả lại cho anh Ngô Duy S ½ giá trị của chiếc xe do đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, T luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 34); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục 37); Bản Kết luận giám định số 45/KL – KTHS ngày 02/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên(bút lục 40); phù hợp với lời khai của anh Đoàn Thế T, chị Phạm Thị T là những người chứng kiến khi Cơ quan điều tra bắt, niêm phong đồ vật bị tạm giữ; Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Ngô Duy S. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/12/2022 tại khu vực đường ĐH92 thuộc địa phân thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo Nguyễn Thị H đang tàng trữ 05 giàn pháo với tổng khối lượng 7,75kg. Số pháo trên do Nguyễn Thị H mua với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Hưng Yên bắt quả tang.

Bị cáo Nguyễn Thị H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bị cáo đã đ ủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

.Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ , thể hiện sự coi thườ ng pháp luâ ̣t gây mất trâ ̣t tự trị an ta ̣i địa phương . Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc Nhà nước cấm sản xuất, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng hàng cấm, đặc biệt pháo nổ không chỉ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây thiệt hại đến kinh tế, sự an toàn về tài sản của công dân, của Nhà nước. Mặc dù nhận thức được như vậy nhưng bị cáo H vẫn cố ý thực hiện tàng trữ khối lượng pháo nổ là 7,75kg nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng xét xử sẽ ra một bản án có tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân. Bị cáo có nhân thân tốt. Không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bố đẻ của bị cáo H là ông Nguyễn Văn Đ là người có công với cách mạnh, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; Chưa có tiền án, tiền sự; Nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã thành khẩn khai báo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách, giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

. Đối với người đàn ông bán pháo cho H, quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân, lai lịch nên tách hành vi của người đó ra để tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ xem xét sẽ xử lý là phù hợp..

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thùng catton dán kín kí hiệu M1 hoàn mẫu vật sau giám định bên trong chứa 6,10kg(Sáu phẩy một không kilôgam) pháo, loại pháo nổ(Pháo hoa nổ) đang được quản lý tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên là hàng cấm nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 89B1 – 258.28; Số khung: RLHJF461EZ160729; Số máy: JF46E-6086081 mang tên Nguyễn Thị H là công cụ phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội. Chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Bị cáo H đã sử dụng vào việc phạm tội nhưng anh Ngô Duy S là chồng bị cáo không biết. Do vậy, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước ½ giá trị của chiếc xe. Trả lại cho anh Ngô Duy S ½ giá trị còn lại của chiếc xe.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 102 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và Điều 463 Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02(hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019 .

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng catton dán kín kí hiệu M1 hoàn mẫu vật sau giám định bên trong chứa 6,10kg(Sáu phẩy một không kilôgam) pháo, loại pháo nổ(Pháo hoa nổ)đang được quản lý tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 89B1 – 258.28 mang tên Nguyễn Thị H. Trả lại anh Ngô Duy S ½ giá trị của chiếc xe nói trên.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 07/LNK– CQĐT ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Cơ quan CSĐT – Công an huyện T, tỉnh Hưng Yên và phiếu nhập kho vật chứng ngày 12/01/2023 giữa cơ quan Công an và Chi cục THADS T).

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho những người có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ