vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 31/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tẩn A L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A L 01 (một) năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 14/4/2022 đến ngày 23/4/2022), thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 19/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn A Lìn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tẩn A L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS - ST
Ngày: 31/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh - Ông Lò Văn Chiên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên

Ngày 31/10/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST - HS, ngày 05/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST - HS ngày 17/10/2023 đối với bị cáo:

Tẩn A L (tên gọi khác: không), sinh năm: 2000; nơi sinh: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Bản Thèn Thầu, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Tẩn Phủ Sài sinh năm: 1981 và mẹ đẻ bà Lý San Mẩy, sinh năm 1981; bị cáo sống như vợ chồng với Tẩn Thị Lan, sinh năm: 2000 (hiện không còn chung sống với nhau), và có 01 con sinh năm 2015; Tiền sự: không.

Tiền án: Tại bản án số: 44/2020/HSST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. (chưa được xóa án tích)

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/4/2022 đến ngày 23/4/2022 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 19/7/2023 bị cáo bị bắt tạm giam theo quyết định truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đức Hạnh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản Khổng Lào, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Trương Hữu Thắng, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà 370 đường Trần Hưng Đạo, phường Quyết Tiến, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/4/2023 Tẩn A L đi bộ đến quán sửa điện thoạt Hạnh Trang thuộc bản Khổng Lào, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu L quan sát có chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu XDS Hero600 của anh Nguyễn Đức Hạnh dựng trước hiên nhà ngay sát quán sửa điện thoại, L đã trộm cắp chiếc xe đạp của anh Hạnh mang đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi trộm cắp được chiếc xe đạp, L đạp xe mang đến cửa hàng anh Trương Hữu Thắng có địa chỉ: Số nhà 370 đường Trần Hưng Đạo, phường Quyết Tiến, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để bán cho anh Thắng. Qua trao đổi L nói với anh Thắng là xe đạp của L và cần tiền nên bán cho anh, anh Thắng đồng ý mua với giá 1.100.000 đồng, có được tiền L mua quần áo và tiêu sài cá nhân hết 238.000 đồng. Đến ngày 14/4/2023 anh Nguyễn Đức Hạnh làm đơn trình báo Công an. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày Công an xã Khổng Lào triệu tập L về trụ sở công an xã để làm việc. L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình. Công an xã Khổng Lào đã thu giữ số tiền do L bán chiếc xe đạp mà có được còn là 862.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL - HĐ ĐGTS ngày 20/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phong Thổ kết luận: Chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu XDS Hero600 trị giá 5.800.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu XDS Hero600, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hạnh theo quy định.

Vật chứng còn lại của vụ án: 01 căn cước công dân mang tên Tẩn A L; 02 chiếc áo và 02 chiếc quần; số tiền 862.000 đồng thu giữ của bị cáo. Hiện số vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKSPT, ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn A L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tẩn A L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47-Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Tẩn A L; 02 chiếc áo và 02 chiếc quần; Xác định số tiền 862.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo bán chiếc xe đạp cho anh Thắng. Do vậy đề nghị trả lại cho anh Trương Hữu Thắng (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) số tiền 862.000 đồng,

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hạnh đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không đề nghị giải quyết, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Thắng yêu cầu trả lại số tiền 862.000 đồng, xác định là tiền hợp pháp nên cần trả lại cho anh Thắng theo quy định, anh Thắng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 238.000 đồng nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản cáo trạng và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữa các lời khai không mâu thuẫn với nhau nên không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292; Điểm d khoản 2 Điều 308 - Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, vì vậy có đủ cơ sở khẳng định như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 13/4/2023 tại quán sửa điện thoại Hạnh Trang thuộc bản Khổng Lào, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tẩn A L đã trộm cắp chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu XDS Hero600 của anh Nguyễn Đức Hạnh. Tại bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu kết luận: trị giá 5.800.000 đồng (Năm triệu tám trăm nghìn đồng). Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[4] Đánh giá hành vi của bị cáo HĐXX nhận thấy: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rất rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo coi thường pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu bản thân không chịu lao động làm ăn chân chính thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hạnh đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Thắng yêu cầu trả lại số tiền 862.000 đồng, xác định là tiền hợp pháp nên cần trả lại cho anh Thắng theo quy định, anh Thắng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 238.000 đồng nên không đề cập giải quyết.

[10] Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Tẩn A L; 02 chiếc áo và 02 chiếc quần; Xác định số tiền 862.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo bán chiếc xe đạp cho anh Thắng. Do vậy cần trả lại cho anh Trương Hữu Thắng (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) số tiền 862.000 đồng.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực đặc biệt khó khăn theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[13] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này anh Trương Hữu Thắng là người mua chiếc xe đạp của bị cáo, tuy nhiên anh Thắng không biết chiếc xe đạp là tài sản trộm cắp, nên loại trừ trách nhiệm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tẩn A L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Về Hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tẩn A L 01 (một) năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 14/4/2022 đến ngày 23/4/2022), thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 19/7/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47- Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Tẩn A L; 02 chiếc áo và 02 chiếc quần.

- Trả lại số tiền 862.000 đồng cho anh Trương Hữu Thắng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 - Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Nơi nhận:

Cỡ chữ