- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hán Văn Trung - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hán Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2023/HS-ST Ngày 13 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, Tòa án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Hán Văn Tr, sinh ngày 22/12/1986
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hán Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1988; Con có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: 01
Tại Quyết định số 279/2022/HSST ngày 18/5/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện S xử phạt hành chính số tiền 3.000.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Trung đã nộp phạt ngày 20/5/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/11/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Đỗ Xuân H, sinh năm 1965, có mặt. Nơi cư trú: Tổ 27B, phố Th, phường Th, thành phố V, tỉnh Ph.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1988, có mặt.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27/10/2022, Hán Văn Tr, sinh năm 1986 ở thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh V một mình đến khu vực neo đậu tàu quốc và phao đẩy của ông Đỗ Xuân H, sinh năm 1965 ở phường Th, thành phố V, tỉnh Ph đang neo đậu gần bờ sông Lô thuộc thôn Đ, xã H, mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Tr thấy khoang động cơ của chiếc phao đẩy không khóa nên đã mở lắp khoang lấy trộm 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu ENIMAC, loại 200A. Tr dùng tay kéo lê dọc bờ sông đến đồi cây bạch đàn cách đó khoảng 150m rồi về nhà lấy xe mô tô BKS: 88S1-8776 để trở chiếc bình đi tìm nơi tiêu thụ nhưng chưa có người mua nên Tr chở về giấu ở nhà. Ngày 28/10/2022, ông H phát hiện mất chiếc bình ắc quy nên làm đơn trình báo, Cơ quan Công an đã điều tra, rà soát, triệu tập Tr lên làm việc, Tr đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp lại chiếc bình ắc quy.
Trong đơn trình báo ngày 28/10/2022 cũng như tại phiên tòa, ông Đỗ Xuân H trình bày bị mất 02 chiếc bình ắc quy loại 200A. Tuy nhiên, quá trình điều tra, tại phiên tòa cũng như các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Tr xác nhận chỉ trộm cắp 01 chiếc bình ắc quy của ông H, còn bình ắc quy khác, Tr không nhìn thấy và cũng không trộm cắp.
Cùng ngày 31/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 290. Tại kết luận số: 65/KLĐG ngày 01/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: “Trị giá 01 bình ắc quy nhãn hiệu ENIMAC là 2.350.000đồng”.
Bản Cáo trạng số 05/CT-VKSSL ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân huyện S, tỉnh V đã truy tố bị cáo Hán Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Hán Văn Tr, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hán Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hán Văn Tr từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng: Trả lại ông Đỗ Xuân H 01 bình ắc quy loại 200A và trả lại chị Nguyễn Thị Á 01 xe mô tô BKS: 88S1- 8776.
Tại phiên tòa bị cáo Tr thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị hại tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì và xin lại 01 chiếc bình ắc quy, không yêu cầu bị cáo bổi thường gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên đúng theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Hán Văn Tr đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện S đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản …. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ động cơ mục đích tư lợi, để có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 27/10/2022, Hán Văn Tr đã lén lút lấy trộm 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu ENIMAC trị giá 2.350.000 đồng của ông Đỗ Xuân H lắp trong khoang phao đẩy đang neo đậu gần bờ sông Lô thuộc thôn Đ, xã H, huyện S.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo Hán Văn Tr đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo rất táo bạo, trộm cắp giữa ban ngày. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, nhưng bị cáo không chịu làm ăn lương thiện, mà lại trộm cắp tài sản. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có, tuy nhiên bị cáo là người có tiền sự, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đối với chiếc bình ắc quy ENIMAC, loại 200A còn lại mà ông Đỗ Xuân H trình bày bị mất. Quá trình điều tra chưa xác minh làm rõ được đối tượng trộm cắp nên CQĐT cần phải tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, bị cáo nghiện ma túy và không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra xác định bình ắc quy Tr trộm cắp đã được thu giữ, không hư hỏng, mất mát gì. Ông Đỗ Xuân H không yêu cầu Trung bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bình ắc quy nhãn hiệu ENIMAC, loại 200A màu đen cần trả lại ông Đỗ Xuân H là đúng chủ sở hữu.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 88S1-8776 là của chị Nguyễn Thị Á (vợ bị cáo) mua từ số tiền của chị Ánh làm phương tiện đi lại duy nhất trong gia đình. Chị Á không biết Trung sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại chị Á.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Hán Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Hán Văn Tr 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/11/2022.
- Về xử lý vật chứng:
Trả lại ông Đỗ Xuân H 01 bình ắc quy nhãn hiệu ENIMAC, loại 200A màu đen. Trả lại chị Nguyễn Thị Á 01 chiếc xe mô tô BKS: 88S1-8776. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023).
- Án phí: Bị cáo Hán Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh V;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh V;
- VKSND huyện S;
- Công an huyện Sô;
- Sở Tư pháp tỉnh V;
Đã ký và đóng dấu
- Chi Cục THADS huyện S;
- Bị cáo; Đương sự;
Ngô Thị Minh Hiệp
- Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Lập Thạch; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - CQĐT - Công an huyện Lập Thạch; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi Cục THADS huyện Lập Thạch; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Thị Minh Hiệp |