- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS - ST Ngày: 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông- Kiểm sát viên.
Ngày 17/01/2023 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án tỉnh Bắc Giang và Điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2022/TLST-HS ngày 30/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 05/01/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: La Văn D - sinh năm 1973;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: thôn Danh Thượng 2, xã Danh Thắng, Hiệp Hoà, Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do ;
Trình độ văn hóa lớp: 4/12
Quốc tịch: Việt nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không
Con ông: La Văn Thuyết (đã chết);
Con bà: Nguyễn Thị Muối, sinh năm 1937;
Vợ: Phùng Thị K, sinh năm 1974;
Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1998.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022 đến nay; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( có mặt).
* Người liên quan: Chị Phùng Thị K, Sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Trú tại: thôn Danh Thượng 2, xã Danh Thắng, Hiệp Hoà, Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/12/2022, tại khu vực thôn Đức Nghiêm, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Công an xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa bắt quả tang đối tượng La Văn D đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Dinh khai nhận đó là ma túy của Dinh tàng trữ để sử dụng. Ngoài ra Công an xã Ngọc Sơn còn thu giữ của Dinh 01 chiếc xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 98D1-246.85. Công an xã Ngọc Sơn đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng nghi là ma túy nêu trên.
Cùng ngày, Công an xã Ngọc Sơn đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng La Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã tiến hành khám xét đối với nhà ở của La Văn D, kết quả không thu giữ gì.
Ngày 20/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Dinh khi bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số: 2265/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: “Trong 01(một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ được đựng trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu “Thăng Long” là ma túy, có khối lượng 0,601 gam, loại Heroine (BL:16-17).
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma túy của bị can như sau: La Văn D là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 15 giờ ngày 20/12/2022, Dinh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-246.85 (đăng ký xe mang tên vợ Dinh là Phùng Thị K) đến khu vực thôn Đức Nghiêm, xã Ngọc Sơn, khi đi đến ngã ba Trại Cờ Dinh đi theo đường 295 (hướng đi huyện Tân Yên) rồi rẽ phải vào một ngõ nhỏ vẫn thuộc thôn Đức Nghiêm thì gặp đối tượng nam thanh niên khoảng 30 tuổi, Dinh chỉ biết tên là Hải (không rõ địa chỉ ở đâu) bảo Hải bán cho 200.000 đồng tiền ma túy, loại Heroin. Sau khi Dinh đưa tiền thì người này đưa cho Dinh 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” bên trong có túi ni lon đựng ma túy. Dinh cất giấu ma túy vào túi áo khoác đang mặc rồi đi xe máy về, trên đường về thì bị Công an an xã Ngọc Sơn phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng là số ma túy.
Với nội dung trên Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-HH ngày 29/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo La Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
1, Tuyên bố bị cáo La Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2, Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt La Văn D từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/12/2022. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
3, Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì chứa chất ma túy Heroine ký hiệu “QT” đã niêm phong.
Trả lại cho chị Phùng Thị K 01 chiếc xe mô tô Hon Đa Dream, BKS 98D1 – 24685, xe đã qua sử dụng.
4, Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
: Tại phiên toà hôm nay bị cáo La Văn D có mặt tại phiên tòa cũng đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 15 giờ 30 ngày 20/12/2022, tại thôn Đức Nghiêm, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, La Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,601 gam, loại ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa bắt quả tang .
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rất rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.
. Đối với đối tượng tên Hải, theo Dinh khai là người đã bán ma túy cho Dinh, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác minh tại xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa không có đối tượng tên Hải như Dinh khai. Do vậy, không có căn cứ để xử lý.
. Về vật chứng của vụ án gồm:
Đối với Chiếc xe mô tô biển kiểm soát Hon da Dream biển kiểm soát 98D1-246.85 đăng ký mang tên Phùng Thị K là vợ của Dinh, là tài sản của gia đình Dinh. Cần trả lại cho chị Ký.
Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy đã niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy.
. Về hình phạt bổ xung và án phí: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp. Do vậy cần miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về hình phạt:
Xử phạt: La Văn D: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/12/2022.
Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì chứa chất ma túy Heroine ký hiệu “QT” đã niêm phong.
Trả lại cho chị Phùng Thị K 01 Chiếc xe mô tô biển kiểm soát Hon da Dream biển kiểm soát 98D1-246.85 đăng ký mang tên Phùng Thị K.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 và 9a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư Pháp; - Chi cục THA huyện; - CQĐT,CQTHAHS Công an h. Hiệp Hòa; - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND thị trấn, xã nơi cư trú bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Chung |