- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Cường - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo LXC (tên gọi khác: Nậy) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 24/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Vũ Ngọc Châu.
Các hội thẩm nhân dân:
ông Hoàng Đoán;
bà Trần Thị Cúc.
- Thư ký phiên tòa: ông Võ Đức Long – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
LXC (tên gọi khác: Nậy), sinh ngày 12/5/1995, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn Đông Hải, xã Linh Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Hà, trú tại: thôn Đông Hải, xã Linh Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân bị cáo: Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 27/6/2016 của Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt LXC 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
Ngày 06/12/2022 bị Công an xã Linh Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh từ ngày 07/12/2022 cho đến nay; có mặt.
* Bị hại:
+ Anh Phạm Văn Nguyên, sinh năm 1995; trú tại: thôn Nhĩ Hạ, xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
+ Anh Phạm Văn Quyết, sinh năm 1995; trú tại: thôn Nhĩ Hạ, xã Gio Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn Dũng, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn Đông Hải, xã Linh Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ông Đỗ Hoàng Dương – Thư ký TAND huyện Gio Linh.
Bà Lê Thị Phương – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh.
- Người tham gia khác tại điểm cầu thành phần:
Ông Nguyễn Duy Tuấn và ông Phạm Văn Đức: Chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Gio Linh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết với LXC nên vào khoảng cuối tháng 6/2022, anh Phạm Văn Quyết và anh Phạm Văn Nguyên có hỏi C về nơi học bằng lái xe ô tô hạng B2 mà không cần thi lý thuyết. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, C đưa ra thông tin gian dối có quen biết với người làm thủ tục đăng ký thi bằng lái xe để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Quyết, anh Nguyên 04 lần, cụ thể:
Lần 1: C đưa ra thông tin gian dối về chi phí học lái xe mỗi người 13.000.000 đồng, phải chuyển trước 7.000.000 đồng để làm hồ sơ. Vì tin tưởng nên ngày 30/6/2022, anh Nguyên chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng số 5200196789999, mang tên Lê Thị Bích Nga (sinh năm 1993, trú tại thôn Đông Hải, xã Linh Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, là chị gái của C), mở tại Ngân hàng MBbank. Sau đó, C nhờ chị Nga chuyển 7.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng số 040087992588 mang tên LXC, mở tại Ngân hàng Sacombank. Còn đối với anh Quyết, ngày 01/7/2022 đã chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của C số tiền 2.000.000 đồng, số tiền còn lại do trước đó C có mượn của anh Quyết 8.000.000 đồng nên hai bên thoả thuận trừ vào số tiền nợ. Sau khi nhận được tiền, C tiêu xài cá nhân hết.
Lần 2: Do hết tiền, C tiếp tục yêu cầu các anh Quyết, Nguyên nộp thêm 6.000.000 đồng để đủ 13.000.000 đồng với lý do học phí thi bằng B2 chuẩn bị tăng giá, nếu không nộp đủ thì sau này sẽ phải nộp nhiều hơn. Vì tin tưởng C nên ngày 12/7/2022, các anh Quyết, anh Nguyên đã chuyển tiếp cho C mỗi người số tiền 6.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C. Số tiền này C sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.
Lần 3: Để tạo niềm tin nhằm tiếp tục chiếm đoạt tài sản, C dùng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Realme của mình tạo tài khoản Facebook “Nguyễn ….” (hiện đã đổi tên thành “Quang Group Đăng”) rồi nhắn tin đến tài khoản Facebook “C Euro” của C với nội dung: “Có lịch học là ngày 8/8 là bắt đầu học luôn á. Nói hắn chạy lý thuyết khỏi học ra Quảng Bình thi cho rẻ. Bữa ni lý thuyết rớt dữ lắm. Tính đi tiền thầy vô lại đó. Thà chạy lý thuyết còn hơn. Đi ngày ra thi thôi…”. Sau khi nhắn xong, C chụp ảnh màn hình cuộc hội thoại rồi gửi cho các anh Quyết, anh Nguyên và nói ngày 8/8/2022 bắt đầu học lái xe ở Quảng Bình, muốn thi lý thuyết chỉ cần có mặt, không cần học vẫn đậu thì mỗi người phải nộp thêm 3.500.000 đồng. Tin tưởng C nên các anh Quyết, anh Nguyên đồng ý. Ngày 01/8/2022, C điều khiển xe ô tô BKS 74A-098.52 (do anh Nguyễn Trung Đặng, sinh năm 1984, trú tại khu phố Tây Trì, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) là chủ sở hữu, anh Đặng giao cho anh Trương Quang Anh Tú (sinh năm 1988, trú tại khu phố 3, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, làm nghề kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái) để tìm người cho thuê. Từ tháng 07/2022 đến tháng 10/2022, C gặp anh Tú để thuê xe ô tô tự lái làm phương tiện đi lại với giá 700.000 đồng/01 ngày) đến nhà anh Quyết, anh Nguyên để lấy tiền, anh Quyết đưa tiền mặt cho C 2.500.000 đồng, còn 1.000.000 đồng trừ nợ, anh Nguyên đưa tiền mặt cho C 3.500.000 đồng. Số tiền này C sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.
Lần 4: Ngày 04/8/2022, để tiếp tục có tiền tiêu xài, C tiếp tục nhắn tin cho anh Quyết, anh Nguyên với nội dung muốn ra Quảng Bình học có xe tập và thi, đảm bảo đậu 100% thì mỗi người phải nộp thêm 5.500.000 đồng nữa. Sau đó, anh Nguyên chuyển khoản vào tài khoản của C số tiền 5.500.000 đồng. Anh Quyết chuyển khoản cho C 4.600.000 đồng (900.000 đồng trừ số tiền trước đó C mượn của anh Quyết chưa trả), số tiền này C sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Sau khi nhận được tiền, C đưa xe ô tô BKS 74A-098.52 cho các anh Quyết, Nguyên chạy thử để tạo thêm sự tin tưởng của hai người.
Tổng cộng C đã chiếm đoạt 44.000.000 đồng của các anh Quyết, Nguyên (mỗi người 22.000.000 đồng). Tuy nhiên, từ đó cho đến nay C không thực hiện đăng ký học bằng lái xe ô tô hạng B2 cho các bị hại cũng như không có khả năng chạy thi bằng lái xe như đã hứa hẹn. Vì vậy, ngày 07/12/2022, C đến Công an huyện Gio Linh để tự thú về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-GL ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo LXC về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo LXC (Nậy) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo LXC từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 586 và 589 BLDS năm 2015, ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo, ông Lê Văn Dũng (bố bị cáo), anh Phạm Văn Quyết và Phạm Văn Nguyên: ông Lê Văn Dũng sẽ thay mặt bị cáo bồi thường cho anh Quyết và anh Nguyên là 44.000.000 đồng (mỗi người 22.000.000 đồng), ông Dũng đã bồi thường cho mỗi người được 5.000.000 đồng; số tiền còn phải tiếp tục bồi thường cho mỗi người là 17.000.000 đồng; trong đó sẽ trả trước cho mỗi người 10.000.000 đồng trước ngày 30/4/2023, số tiền còn lại sẽ trả hết vào ngày 30/5/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 thẻ sim Viettel số 0399179244.
+ Tịch thu sung công: 01 điệnt hoại di động hiệu Realme C21-Y, màu xanh.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án và xác định tội danh: tại phiên tòa, bị cáo LXC đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định được như sau:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên khi bị cáo C biết anh Phạm Văn Quyết và anh Phạm Văn Nguyên có nhu cầu học lái xe bằng B2 mà không phải thi lý thuyết, bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối là có quen biết với người làm thủ tục đăng ký thi bằng lái xe; tự tạo ra tương tác trên Facebook và thông tin về lịch học; hứa hẹn không cần học vẫn đậu lý thuyết…làm cho anh Quyết và anh Nguyên tin tưởng là thật nên đã nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo với tổng số tiền là 44.000.000 đồng; trong đó, mỗi người là 22.000.000 đồng.
Bị cáo biết rõ không có khả năng giúp anh Quyết và Nguyên học bằng lái xe mà không phải học lý thuyết nhưng thi vẫn đậu; bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối để bị hại tin tưởng chuyển tiền cho mình. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Lê Xuân Cưởng về tội danh và điều luật như tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-GL ngày 21/02/2023 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo LXC là người có nhân thân xấu, năm 2016 bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về địa phương sinh sống bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà ngược lại ham chơi, thích tụ tập bạn bè và đã sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị Công an xã Linh Hải xử phạt vi phạm hành chính; để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Qua đó, thể hiện sự coi thường pháp luật; không ăn năn, hối cải.
Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật rự, trị an trên địa bàn; gây hoang mang lo lắng cho bà con nhân dân. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, HĐXX thấy:
Tình tiết tăng nặng: bị cáo thực hiện bốn lần chiếm đoạt tài sản, mỗi lần đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tại sản” theo quy định tại Điều 174 của BLHS, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã tự thú hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả do mình gây ra và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Trong vụ án này chị Lê Thị Bích Nga cho bị cáo mượn số tài khoản để nhận tiền từ anh Nguyên nhưng chị Nga không biết tiền do bị cáo phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với anh Nguyễn Trung Đặng và anh Trương Quang Anh Tú cho bị cáo thuê xe ô tô nhưng không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét là đúng quy định.
Về trách nhiệm dân sự: ngày 18/01/2023, giữa bị cáo LXC, ông Lê Văn Dũng (bố bị cáo), anh Phạm Văn Quyết và anh Phạm Văn Nguyên đã thoả thuận: ông Lê Văn Dũng sẽ thay mặt bị cáo bồi thường cho anh Quyết và anh Nguyên tổng số tiền là 44.000.000 đồng (mỗi người 22.000.000 đồng), ông Dũng đã bồi thường cho mỗi người được 5.000.000 đồng; số tiền còn phải tiếp tục bồi thường cho mỗi người anh Quyết, anh Nguyên là 17.000.000 đồng; trong đó, sẽ trả trước cho mỗi người 10.000.000 đồng trước ngày 30/4/2023, số tiền còn lại sẽ trả hết vào ngày 30/5/2023. Xét thấy, thoả thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, Hội đồng xét xử thống nhất hướng xử lý vật chứng theo đề nghị của Viện kiểm sát, cụ thể:
Bị cáo sử dụng điện thoại di động hiệu Realme C21-Y, màu xanh liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công. Đối với sim Viettel số 0399179244 gắn ở điện thoại trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trước khi mở phiên tòa, người bị hại và bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận thỏa thuận đó nên bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Quyết định tạm giam của bị cáo LXC còn dưới 45 ngày nên cần ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;
Căn cứ Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Bị cáo LXC (tên gọi khác: Nậy) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo LXC 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/12/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo LXC, ông Lê Văn Dũng (bố bị cáo), anh Phạm Văn Quyết và anh Phạm Văn Nguyên: ông Lê Văn Dũng sẽ thay mặt bị cáo bồi thường cho anh Quyết và anh Nguyên tổng số tiền là 44.000.000 đồng (mỗi người 22.000.000 đồng), ông Dũng đã bồi thường cho mỗi người được 5.000.000 đồng; số tiền còn phải tiếp tục bồi thường cho mỗi người anh Quyết, anh Nguyên là 17.000.000 đồng; trong đó, sẽ trả trước cho mỗi người 10.000.000 đồng trước ngày 30/4/2023, số tiền còn lại sẽ trả hết vào ngày 30/5/2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi sất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thẻ sim Viettel số 0399179244, có số seri 8984 04800 03244 53227 (được gắn ở điện thoại di động hiệu Realme C21-Y, màu xanh).
- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu Realme C21-Y, màu xanh, số Imei 1: 860666054175358, Imei 2: 860666054175341.
Hiện các vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2023, giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
5. Về án phí: bị cáo LXC phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Công an huyện Gio Linh; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - Bị cáo, bị hại và người CQLNVLQ - Thi hành án hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Châu |