- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Nguyễn H phạm tội TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày: 09-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Tấn Tiên;
2. Ông Trần Hữu Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên;
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Nguyễn H, giới tính: Nam; sinh năm 1987, tại Tây Ninh. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Thuận An, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không có. Trình độ học vấn: 3/12. Con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không có; Tiền sự: Quyết định số 31/QĐ-TA Ngày 21/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 29/3/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2022 và chuyển tạm giam từ 17/9/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Dương Minh Châu,tỉnh Tây Ninh. Bị cáo có mặt tại phiên toà;
Bị hại: Anh Vương Nhật D, sinh năm 2004. Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Huỳnh Nguyễn H đi tìm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm. Khoảng 20 giờ ngày 04/9/2022 bị cáo Huỳnh đi bộ đến khu vực cổng Công ty Can Sports Việt Nam thuộc ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 70F1-190.18 của anh Vương Nhật D đang dựng trước nhà trọ, trên xe còn để chìa khóa, không người trông coi nên đã lén lút lấy trộm. Sau đó, bị cáo điều khiển xe đi đến khu vực ấp Láng, xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu mượn dụng cụ tháo rời đèn chiếu sáng, đuôi đèn tín hiệu phía sau, đồng hồ tốc độ, ốp nhựa thân xe và bảo vệ lốc máy để tránh bị phát hiện. Đến ngày 08/9/2022 bị cáo điều khiển xe trên đường kênh thuộc ấp Thuận Tân, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu thì bị phát hiện bắt khẩn cấp.
Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 16/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Dương Minh Châu, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70F1-190.18, số máy 5C641021579, số khung CS5C641DY021577 có giá trị là 7.670.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và vật chứng bị thu giữ đúng nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố;
Tại cáo trạng số 02/CT-VKSDMC ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Huỳnh Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bị cáo bồi thường;
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 20 giờ ngày 04/9/2022, tại ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh bị cáo Huỳnh Nguyễn H đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 70F1-190.18 của anh Vương Nhật D trị giá 7.670.000 đồng; trong thời gian bị cáo tìm nơi tiêu thụ thì đến ngày 08/9/2022 thì lực lượng công an phát hiện bắt giữ. Diễn biến hành vi của bị cáo thực hiện và vật chứng bị thu giữ như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng bị thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Huỳnh Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến anh ninh, trật tự an toàn xã hội nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có;
Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên có đủ sức khỏe nhưng thích hưởng thụ, lười lao động; bản thân bị cáo đang có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo giáo dục và góp phần phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp:
Xử lý vật chứng: Đã trả lại cho bị hại - anh Vương Nhật D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70F1-190.18, số máy 5C641021579, số khung CS5C641DY021577;
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh D không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/9/2022;
2. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Huỳnh Nguyễn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng khác vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện DMC; - Đội ĐTTP về TTATXH; - Đội PV 27; - CC THADS huyện DMC; - THAHS - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Lắm |