vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo K’H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo K’H 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tiếp tục tạm giữ: 01 Điện thoại di động hiệu Oppo loại màn hình cảm ứngthu giữ của bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án K' H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày: 10-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Mậu Thế

2/ Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Non - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2022/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

* Bị cáo: K’H, sinh năm 1995; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn Ryông Tô, xã Ph T, huyện L H, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: K’ Ho; Tôn giáo: Thiên Chúa; Cha: ông K’ Hiếu - Sinh năm: 1965, Mẹ: bà K’ Rồi - Sinh năm: 1963; Anh, chị, em ruột: có 07 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình.

Tiền án: Tại Bản án số 65/2017/HSST ngày 12/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện L H đã xử phạt K’ Hưng 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại Bản án số 40/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện L H đã xử phạt K’ Hưng 03 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 05/10/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt

* Bị hại:

- Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1965

Trú tại: Số 16/20, thôn Phú Thạnh, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1959

Trú tại: Thôn Ryông Tô, xã Ph T, huyện L H, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Vũ Thị Ánh T, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn Tân An, xã H A, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Dương Văn Kh, sinh năm 1989

Trú tại: Số 01, đường Nguyễn Công Trứ, phường 8, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1972

Trú tại: Số 3, khu Hòa Bình, phường 1, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Chồng T V, sinh năm 1978

Trú tại: Số 13, khu Hòa Bình, phường 1, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 11/7/2022, K’H lén lút đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Th – sinh năm 1965, ở Phú Thạnh, H Th, Đ lấy trộm 01 điện thoại Iphone XS max, 01 dây chuyền vàng có trọng lượng 3.7 chỉ loại vàng tây 18K, 02 nhẫn vàng có trọng lượng 02 chỉ loại vàng tây 18k, 01 nhẫn vàng tây loại 18 k có trọng lượng 0,78 chỉ, 01 nhẫn bạc có đính ngọc trai. Sau đó, Hưng đến tiệm vàng của ông Trần Hoàng M bán 01 nhẫn kim loại có đính ngọc trai, 01 dây chuyền được 6.400.000đ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Hưng đến tiệm điện thoại của anh Dương Văn Kh – số 1, Nguyễn Công Trứ, phường 8, TP Đ L bán điện thoại Iphone XS được 4.500.000đ. Đến khoảng 8 giờ ngày 12/7/2022 Hưng đến tiệm vàng Lập Đức do ông Chồng T V làm chủ ở số 13, Khu Hòa Bình, Phường 1, TP Đ L để bán 01 nhẫn vàng được 2.780.000đ. Đến 15 giờ ngày 12/7/2022, hành vi của bị cáo bị phát hiện cùng tang vật.

Kết luận số 75/KL-HĐĐG ngày 20/7/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XS Max trị giá 7.000.000đ.

Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 16/11/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: 01 dây chuyền vàng có trọng lượng 3.7 chỉ loại vàng tây 18K, 02 nhẫn vàng có trọng lượng 02 chỉ loại vàng tây 18k, 01 nhẫn vàng tây loại 18 k có trọng lượng 0,78 chỉ, tổng trị giá 18.144.000đ.

Qúa trình điều tra K’H khai nhận: do thiếu tiền tiêu xài, K’H đã đi bộ nhiều nơi trên địa bàn huyện L H, Đ tìm kiếm nhà người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:

+ Vụ thứ 1: Vào khoảng 9 giờ ngày 04/7/2022, K’ Hưng đi bộ một mình trong thôn thì phát hiện nhà ông Nguyễn Anh T – sinh năm 1959, tại thôn Ryông tô, Ph T, L H, Lâm Đồng không có người trông coi. K’ Hưng lấy 01 cây gỗ cậy chấn song cửa sổ rồi leo vào trong lục đồ và lấy trộm được 2.900.000đ. Sau đó, Hưng cùng bạn bè sử dụng tiền trộm cắp được vào việc ăn uống hết.

+ Vụ thứ 2: Vào sáng ngày 10/7/2022, K’H một mình đi xe bus từ TP Đ L đến huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Hưng đi bộ đến nhà bà Vũ Thị Ánh T – sinh năm 1990, ở thôn Tân An, H A, Đ, Lâm Đồng lấy trộm số tiền 10.000.000đ, 01 vòng tay có trọng lượng 02 chỉ loại vàng Y – 9999, 01 nhẫn 0.5 chỉ loại vàng Y (9999). Sau đó, Hưng đi về TP Đ L và đem bán vòng tay và nhẫn cho ông Trần Hoàng M – chủ tiệm vàng M Trí tại số 3 Khu Hòa Bình, Phường 1, TP Đ L được 6.600.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 16/11/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: 01 vòng tay có trọng lượng 02 chỉ loại vàng Y – 9999, 01 nhẫn 0.5 chỉ loại vàng Y (9999), tổng trị giá 8.250.000đ.

Như vậy, K’ Hưng thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Đ và L H. Tổng số tiền mà K’H trộm cắp là 46.294.000đ, thu lợi bất chính 30.280.000đ.

Vật chứng của vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT điều tra tạm giữ của bị cáo 01 Điện thoại di động hiệu Oppo loại màn hình cảm ứng, 02 nhẫn kim loại màu vàng, số tiền 5.500.000đ của K’ Hưng và 01 cây gỗ tròn dài 1.2m, hiện đã chuyển Chi cục THADS huyện Đ chờ xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone XSMax là tài sản của bà Nguyễn Thị Th Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả cho bà Thu nên không đề cập đến.

Đối với 01 vòng tay có trọng lượng 02 chỉ loại vàng Y – 9999, 01 nhẫn 0.5 chỉ loại vàng Y (9999); 01 dây chuyền vàng có trọng lượng 3.7 chỉ loại vàng tây 18K, 02 nhẫn vàng có trọng lượng 02 chỉ loại vàng tây 18K, 01 nhẫn vàng tây loại 18 K có trọng lượng 0,78 chỉ, 01 nhẫn bạc có đính ngọc trai, quá trình điều tra không thu giữ được nên không đề cập đến.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Ánh T yêu cầu bị cáo bồi thường 18.250.000đ và bà Nguyễn Thị Th yêu cầu K’H bồi thường 25.144.000đ. Đến nay Hưng chưa bồi thường cho các bị hại. Ông Nguyễn Anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập đến.

Anh Dương Văn Kh yêu cầu bị cáo bồi thường 4.500.000đ là số tiền mua điện thoại hiện đã bị thu giữ. Bị cáo chưa bồi thường.

Tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 174/CT - VKS ngày 14 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo K’H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo K’H về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K’H từ 06 năm tù đến 07 năm tù.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo K’H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Vào khoảng 15 giờ ngày 11/7/2022, bị cáo K’H lén lút đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Th lấy trộm 01 điện thoại Iphone XS max, 01 dây chuyền vàng có trọng lượng 3.7 chỉ loại vàng tây 18K, 02 nhẫn vàng có trọng lượng 02 chỉ loại vàng tây 18k, 01 nhẫn vàng tây loại 18 k có trọng lượng 0,78 chỉ, 01 nhẫn bạc có đính ngọc trai. Sau đó, Hưng đến tiệm vàng của ông Trần Hoàng M bán 01 nhẫn kim loại có đính ngọc trai, 01 dây chuyền được 6.400.000đ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Hưng đến tiệm điện thoại của anh Dương Văn Kh – số 1, Nguyễn Công Trứ, phường 8, TP Đ L bán điện thoại Iphone XS được 4.500.000đ. Đến khoảng 8 giờ ngày 12/7/2022 Hưng đến tiệm vàng Lập Đức do ông Chồng T V làm chủ ở số 13, Khu Hòa Bình, Phường 1, TP Đ L để bán 01 nhẫn vàng được 2.780.000đ.

Kết luận số 75/KL-HĐĐG ngày 20/7/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XS Max trị giá 7.000.000đ.

Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 16/11/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: 01 dây chuyền vàng có trọng lượng 3.7 chỉ loại vàng tây 18K, 02 nhẫn vàng có trọng lượng 02 chỉ loại vàng tây 18k, 01 nhẫn vàng tây loại 18 k có trọng lượng 0,78 chỉ, tổng trị giá 18.144.000đ.

Ngoài ra, quá trình điều tra K’H còn khai nhận 02 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L H, Đ, cụ thể như sau:

+ Vụ thứ 1: Vào khoảng 9 giờ ngày 04/7/2022, K’ Hưng lén lút vào nhà ông Nguyễn Anh T tại thôn Ryông tô, Ph T, L H, Lâm Đồng lấy trộm 01 cây gỗ cậy chấn song cửa sổ rồi leo vào trong lục đồ và lấy trộm được 2.900.000đ.

+ Vụ thứ 2: Vào sáng ngày 10/7/2022, K’H lén lút đột nhập vào nhà bà Vũ Thị Ánh T ở thôn Tân An, H A, Đ, Lâm Đồng lấy trộm số tiền 10.000.000đ, 01 vòng tay có trọng lượng 02 chỉ loại vàng Y – 9999, 01 nhẫn 0.5 chỉ loại vàng Y (9999). Sau đó, Hưng đi về TP Đ L và đem bán vòng tay và nhẫn cho ông Trần Hoàng M – chủ tiệm vàng M Trí tại số 3 Khu Hòa Bình, Phường 1, TP Đ L được 6.600.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐG ngày 16/11/2022 của Hội đồng ĐGTSTTTHS huyện Đ, kết luận: 01 vòng tay có trọng lượng 02 chỉ loại vàng Y – 9999, 01 nhẫn 0.5 chỉ loại vàng Y (9999), tổng trị giá 8.250.000đ.

Như vậy, tổng cộng 03 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Đ và L H bị cáo K’H đã chiếm đoạt tổng số tiền là 46.294.000đ.

Xét thấy lời khai của bị cáo K’H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo K’H đang có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 46.294.000đ. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo K’H thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K’H là người đang có tiền án, chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo 03 lần thực hiện trộm cắp tài sản nên bị cáo cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường như sau:

- Bà Vũ Thị Ánh T yêu cầu bị cáo bồi thường 18.250.000đ.

- Bà Nguyễn Thị Th yêu cầu K’ Hưng bồi thường 25.144.000đ. Đến nay Hưng chưa bồi thường cho các bị hại.

- Anh Dương Văn Kh yêu cầu bị cáo bồi thường 4.500.000đ là số tiền mua điện thoại hiện đã bị thu giữ.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại do đó Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại màn hình cảm ứng, 02 nhẫn kim loại màu vàng, số tiền 5.500.000đ thu giữ của bị cáo K’ Hưng. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận 01 điện thoại di động hiệu Oppo loại màn hình cảm ứng do bị cáo mua nên cần giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với 02 nhẫn kim loại màu vàng, số tiền 5.500.000đ là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung ngân sách là nước là có căn cứ đúng pháp luật.

Đối với 01 cây gỗ tròn dài 1.2m xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần Tịch thu tiêu hủy.

Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm M của pháp luật.

Đối với ông Dương Văn Kh, Trần Hoàng M, Chồng T V là người mua điện thoại, vàng của bị can nhưng không biết tài sản do K’ Hưng trộm cắp mà có nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự.

Đối với số tiền 30.000.000đ mà ông Nguyễn Thái Cường trình báo bị mất, hiện chưa xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy, Cơ quan CSĐT đã tách để tiếp tục xác M nên không đề cập đến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo K’H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo K’H 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tiếp tục tạm giữ: 01 Điện thoại di động hiệu Oppo loại màn hình cảm ứngthu giữ của bị cáo K’ Hưng để đảm bảo công tác thi hành án.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 nhẫn kim loại màu vàng, số tiền 5.500.000đ.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây gỗ tròn dài 1.2m.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ và Giấy nộp tiền ngày 01/12/2022 vào tài khoản số 3949.0.1096549.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Buộc bị cáo K’H phải có nghĩa vụ bồi thường cho: Bà Vũ Thị Ánh T số tiền 18.250.000đ. Bà Nguyễn Thị Th số tiền 25.144.000đ và anh Dương Văn Kh số tiền 4.500.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo K’H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.394.700đ (hai triệu ba trăm chín mươi bốn ngàn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ