- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đào Văn X phạm tội: “Cướp giật tài sản”. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-PT Ngày 23 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Hoàng Tiến Dũng
Ông Hoàng Tiến Dũng
Các thẩm phán:
Ông Phạm Văn Toàn
Ông Nguyễn Quang Vũ
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại điểm cầu trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Đào Văn X đối với Bản án hình sơ thẩm số: 51/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Đào Văn X, sinh năm 1985 tại tỉnh Phú Thọ; tên gọi khác: Đốp; nơi cư trú: Khu 10, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc S và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Nguyễn Thị L đã ly hôn; con: 01 con sinh năm 2006;
Tiền án: có 03 tiền án (Bản án số 36 ngày 30/03/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Đào Văn X 11 năm tù về hai tội Cướp tài sản và cướp giật tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/09/2013; Bản án số 09 ngày 10/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo X 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản’. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2014; Bản án số 40 ngày 18/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo X 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 09 ngày ngày 10/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2014. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2022);
Tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2022; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 17/8/2022 bị cáo X uống rượu tại quán lẩu mèo của anh Nguyễn Nam G, sinh năm 1987, địa chỉ; Khu 10, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đến khoảng 21 giờ, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc (xe bị cáo mới mua chưa đăng ký) đi một mình từ quán ra đường quốc lộ 2 theo hướng lên huyện P để uống cà phê với bạn tại khu công nghiệp Tử Đà. Khi đi đến giữa cầu vượt cao tốc Nội Bài – Lào Cai thuộc khu 8, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ bị cáo thấy chị Nguyễn Nhật P, sinh năm 2001, trú tại: Khu Nam Tiến, thị trấn C, huyện P, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe nhãn hiệu SYM, số loại ELITE, biển số 19AN-021.88, màu sơn đen đi một mình phía trước cùng chiều và đang đeo túi xách màu đen. Bị cáo thấy đoạn đường vắng người nên bị cáo nảy sinh ý định cướp giật chiếctúi xách của chị P.
Bị cáo tăng ga điều khiển xe đi song song bên trái xe của chị P. Sau đó bị cáo dùng tay phải nắm vào túi xách của chị P và giật mạnh làm đứt quai túi. Lúc này bị cáo bị mất thăng bằng nên tự ngã, xe mô tô của bị cáo bị đổ xuống mặt đường. Chị P vẫn điều khiển xe máy đi tiếp được một đoạn rồi vòng xe quay lại. Bị cáo đang dựng xe quay đầu về hướng thành phố V để bỏ chạy thì chị P điều khiển xe máy đâm vào yến xe của bị cáo làm cả hai xe đổ xuống đường, ốp nhựa đầu xe mô tô của bị cáo bị gãy, vỡ rơi 02 mảnh nhựa xuống đường. Sau đó chị P dùng tay giữ xe của bị cáo, xe của chị P kẹt vào chắn bùn của bánh trước xe của bị cáo. Bị cáo dùng chân đạp vào chỗ để chân xe của chị P để kéo xe của bị cáo ra. Bị cáo dựng xe mô tô của mình lên và điều khiển xe chạy đi theo đường quốc lộ 2 về hướng thành phố V.
Bị cáo đi được khoảng 1km đến đoạn đường thuộc khu 3, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì bị cáo dừng xe lại mở túi xách ra kiểm tra và thấy bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh; 01 cục xạc màu trắng, 01 dây sạc điện thoại Iphone màu đen. Bị cáo đúc chiếc điện thoại vào túi quần bên trái, đúc cục xạc và dây xạc vào túi quần trước bên phải còn chiếc túi xách thì vứt lại ở ven đường. Bị cáo điều khiển xe qua quán nhà anh G khoảng 50m thì dừng lại và đi bộ vào ven đường nhặt 01 túi nilong, đúc điện thoại vừa cướp giật được vào túi rồi cất giấu trong bụi cây để hôm sau quay lại lấy đem đi tiêu thụ. Còn cục sạc và dây sạc trên đường đi đã bị rơi mất.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, bên trong lắp sim số 0356.321.096 và chiếc túi giả da của chị P. Bị cáo tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc (xe bị cáo mới mua chưa đăng ký) cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Tại bản kết luận định giá số 60/KL-HĐĐGTS ngày 08/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định tổng giá trị tài sản chị P bị cướp giật (gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh; 01 cục xạc màu trắng, 01 dây sạc điện thoại Iphone màu đen và 01 túi xách giả da màu đen) là 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm nghìn đồng)
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số:51/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
Tuyên bố bị cáo Đào Văn X phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đào Văn X 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2022.
Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 02/12/2022, bị cáo Đào Văn X có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn X.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện P, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ; Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 21 giờ ngày 17/8/2022, tại khu 8, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ bị cáo Đào Văn X đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha (xe bị cáo mới mua chưa đăng ký) thực hiện hành vi cướp giật chiếc túi xách giả da màu đen của chị Nguyễn Nhật P. Bên trong túi xách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh; 01 cục xạc màu trắng, 01 dây sạc điện thoại Iphone màu đen, tổng trị giá các tài sản bị cướp giật là 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm nghìn đồng).
Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đíchvụ lợi.
Xét kháng cáo kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Đào Văn X hình phạt tù như trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Văn X không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ .
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn X. Giữ nguyên Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số:51/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ.
[2]Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đào Văn X phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đào Văn X 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2022.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đào Văn X.
[3]Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáoĐào Văn X phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự phúc thẩm.
[4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND huyện P; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - Chi cục THADS P; - TB UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Tiến Dũng |