- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Mai Thị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Kiều Đình Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị H về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Kiều Đình Đ như sau:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2023 V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây;
2. Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 232/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Mai Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Tổ 2, khu phố T, phường B, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Bị đơn: Ông Kiều Đình Đ, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Tổ dân phố 8, phường L, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ tạm trú: Tổ 1, khu phố T, phường B, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 9 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị H và ông Kiều Đình Đ quen biết nhau khoảng một thời gian thì tiến tới hôn nhân; có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hoá và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số (2003), quyển số 2 ngày 19/5/2003. Năm 2010 vợ chồng vào Bình Dương lập nghiệp và sinh sống cho đến nay. Trong thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng sống rất H phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng, thương yêu nhau, không tin tưởng nhau, ghen tuông vô cớ, thậm chí ông Đ còn có quan hệ tình cảm nam nữ với người phụ nữ khác. Bà H đã nhiều lần tha thứ cho ông Đ, với hy vọng để con cái có cả cha lẫn mẹ. Tuy nhiên, ông Đ không những không thay đổi để cùng chăm lo cho con cái mà vẫn chứng nào thật ấy, vẫn thường xuyên qua lại với người phụ nữ kia. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2022. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
+ Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên Kiều Xuân Ngh, sinh ngày 18/10/2006; Kiều Anh D, sinh ngày 26/9/2009 và Kiều Mai Anh Tr, sinh ngày 19/8/2018. Hiện tại các con đang sống cùng bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chung; không yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15/12/2022 và tại phiên toà bị đơn ông Kiều Đình Đ trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Kiều Đình Đ thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian tìm hiểu, thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống H phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2013 thì vợ chồng thường xuyên mẫu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau, không tôn trọng nhau, không có rõ ràng về tài chính, tiền bạc trong kinh doanh, chi tiêu trong gia đình. Mặt khác, bà H đã nhiều lần có hành vi mờ ám để lừa ông Đ ký các văn bản thoả thuận liên quan đến tài sản có lợi cho bà H, thậm chí trong thời gian chung sống bà H còn có mối quan hệ tình cảm nam nữ với người đàn ông khác. Sau khi phát hiện bà H có quan hệ tình cảm nam nữ với người đàn ông khác, để tránh những chuyện có thể xảy ra không hay nên đầu tháng 10/2022, ông Đ đã ra ngoài thuê phòng trọ sống một mình cho đến nay, từ đó vợ chồng ly thân.
Tại phiên toà, ông Đ thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn. Tuy nhiên, ông Đ chỉ đồng ý ly hôn với bà H sau khi vợ chồng giải quyết xong về tài sản chung.
+ Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên Kiều Xuân Ngh, sinh ngày 18/10/2006; Kiều Anh D, sinh ngày 26/9/2009 và Kiều Mai Anh Tr, sinh ngày 19/8/2018. Khi ly hôn, ông Đ không muốn phải chia tách các con và hiện tại các con đang sống cùng với bà H nên đồng ý để bà H tiếp tục nuôi dưỡng các con. Về phần cấp dưỡng nuôi con thì ông Đ có bao nhiêu thì cấp dưỡng bấy nhiêu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Về quan hệ hôn nhân: bà Mai Thị H được ly hôn với ông Kiều Đình Đ; về con chung: giao 03 con chung tên Kiều Xuân Ngh, sinh ngày 18/10/2006; Kiều Anh D, sinh ngày 26/9/2009 và Kiều Mai Anh Tr, sinh ngày 19/8/2018 cho bà Mai Thị H trược tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chung: ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi các con chung; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Mai Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Kiều Đình Đ và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn. Đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo lời trình bày của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Kiều Đình Đ hiện đang cư trú tại phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Mai Thị H yêu cầu được ly hôn, bị đơn ông Kiều Đình Đ chỉ đồng ý ly hôn sau khi vợ chồng giải quyết xong về tài sản chung; Hội đồng xét xử thấy:
Bà Mai Thị H và ông Kiều Đình Đ chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hoá và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số (2003), quyển số 2 ngày 19/5/2003. Theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng sống rất H phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng nhất là đầu năm 2022. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không tôn trọng, thương yêu nhau, không tin tưởng và không chung thuỷ với nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2022.
[2.1.2] Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Mai Thị H và ông Kiều Đình Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Đ không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp hoà giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ H phúc. Yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng bà H và ông Đ có 03 người con chung tên Kiều Xuân Ngh, sinh ngày 18/10/2006; Kiều Anh D, sinh ngày 26/9/2009 và Kiều Mai Anh Tr, sinh ngày 19/8/2018. Hiện tại các con chung đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả 03 con chung; Hội đồng xét xử thấy:
Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét thấy, yêu cầu được quyền nuôi 03 con chung của nguyên đơn bà Mai Thị H là không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của cháu Kiều Xuân Ngh, Kiều Anh D và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Mai Thị H không yêu cầu ông Kiều Đình Đ phải cấp dưỡng nuôi 03 con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Mai Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị H về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Kiều Đình Đ như sau:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị H được ly hôn với ông Kiều Đình Đ.
1.2 Về việc nuôi con chung: Giao cho bà Mai Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung tên Kiều Xuân Ngh, sinh ngày 18/10/2006; Kiều Anh D, sinh ngày 26/9/2009 và Kiều Mai Anh Tr, sinh ngày 19/8/2018.
Bà Mai Thị H và ông Kiều Đình Đ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
1.3 Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị H về việc không yêu cầu ông Kiều Đình Đ cấp dưỡng nuôi các con chung.
1.4 Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Mai Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006297 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên; bà Mai Thị H không phải nộp thêm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Lê |