- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hồng L xin ly hôn anh Đinh Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Đinh Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-3-2023. V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Anh và ông Nguyễn Trường Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Đinh Như Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 148/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn B, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Kh, xã Kh1, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 24/10/2022 và lời khai tại Tòa án, chị Nguyễn Thị Hồng L là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn H kết hôn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 10 năm 2016 tại UBND xã Kh1, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung số ng hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không quan tâm đến gia đình, không cùng chị chăm lo đến các con, chị khuyên bảo anh H nhiều lần thì anh H đánh chửi chị. Mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2022 chị đã về nhà bố mẹ đẻ chị tại tổ 2, thị trấn B, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ở từ đó cho đến nay, vợ chồng sống ly thân và không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là cháu Đinh Mạnh H1, sinh ngày 01/4/2017 và cháu Đinh Mạnh C, sinh ngày 02/6/2019, hiện hai cháu đang ở với anh H. Khi ly hôn chị L xin được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H1 và giao cháu C cho anh H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Anh Đinh Văn H là bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.
Tại phiên tòa đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy và không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Đinh Văn H. 2. Con chung: Giao cháu Đinh Mạnh H1, sinh ngày 01/4/2017 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Đinh Mạnh C, sinh ngày 02/6/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. 3. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Đinh Văn H là bị đơn; địa chỉ: Thôn Kh, xã Kh1, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Đinh Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Đinh Văn H kết hôn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 10 năm 2016 tại UBND xã Kh1, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không quan tâm đến gia đình, không cùng chị L chăm lo đến các con, chị L khuyên bảo anh H nhiều lần thì anh H không nghe và đánh chửi chị. Mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2022 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị tại tổ 2, thị trấn B, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ở từ đó cho đến nay, vợ chồng sống ly thân và không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Theo các tài liệu xác minh tại địa phương và lời thừa nhận của đương sự thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2020 và kéo dài đến nay. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L xin ly hôn anh H là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị L và anh H có hai con chung là cháu Đinh Mạnh H1, sinh ngày 01/4/2017 và cháu Đinh Mạnh C, sinh ngày 02/6/2019, hiện hai cháu đang ở với anh H, chị L vẫn thường xuyên đưa đón, thăm nom và chăm sóc tốt cho hai cháu, cả hai cháu được anh chị nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo tốt về mọi mặt và đều có công việc, mức thu nhập ổn định nên khi ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H1, giao cháu C cho anh H nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Đinh Văn H.
2. Con chung: Giao cháu Đinh Mạnh H1, sinh ngày 01/4/2017 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Giao cháu Đinh Mạnh C, sinh ngày 02/6/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000215 ngày 01 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng. Chị L đã nộp đủ.
4. Quyền kháng cáo: ChịNguyễn Thị Hồng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đinh Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - UBND xã Kh1; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¥ TH¢M Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |