- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Đ- Phạm Thị T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Thái Đ được ly hôn với chị Phạm Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-02-2023. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Nghĩa;
Bà Đào Thị Ngâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 449/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Thái Đ, sinh năm: 1982;
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1984;
Cùng cư trú tại: số M đường P, Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Anh Đ có mặt; chị T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn xin ly hôn ngày 28/7/2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Thái Đ trình bày:
Anh và chị Phạm Thị T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng một năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, chị T làm ăn gây ra nợ nần nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau; hai người đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn nên yêu cầu Toà án cho anh được ly hôn với chị T.
Về con chung: vợ chồng có hai con chung là Thái V, sinh ngày 30/7/2016 và Thái K, sinh ngày 13/9/2018. Ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Bị đơn chị Phạm Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai.
Do vắng mặt bị đơn nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thái Đ yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị T. Giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng; bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Phạm Thị T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Thái Đ và bị đơn chị Phạm Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Uỷ ban nhân dân Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, nguyên đơn và bị đơn sống hạnh phúc một thời gian sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp; nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau là không thực hiện đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng dẫn đến hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con là Thái V, sinh ngày 30/7/2016 và Thái K, sinh ngày 13/9/2018. Xét thấy, bị đơn thường xuyên vắng mặt tại địa phương và không đến Toà án để trình bày ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con là phù hợp và đúng quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Thái Đ được ly hôn với chị Phạm Thị T.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con Thái V, sinh ngày 30/7/2016 và Thái K, sinh ngày 13/9/2018 cho nguyên đơn anh Thái Đ trực tiếp nuôi dưỡng; bị đơn chị Phạm Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn anh Thái Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai số 0007696 ngày 24/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận
| - Các đương sự; - VKSND TP. Tuy Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - UBND Phường N, TP. T; - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Khánh Thoa |