vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Phương Tr và ông Dương Trường Q.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Dương Tường Yến V, sinh ngày 03/8/2013 và Dương Trường Anh T, sinh ngày 18/6/2018 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Tr không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Ông Q được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Tr và ông Q ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Phương Tr và ông Dương Trường Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/01/2024
V/v: “Ly hôn giữa bà Tr và ông Q”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Tấn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đăng Khoa.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố R G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố R G xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 533/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Phương Tr, sinh năm 1989. (Có mặt).

Địa chỉ: Số 16/55 khu phố P K, phường V H, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Dương Trường Q, sinh năm 1982. (Vắng mặt lần thứ 2).

Địa chỉ 1: Ấp H P A, xã Đ L, huyện C T, tỉnh Trà Vinh.

Địa chỉ 2: Số 16/55 khu phố P K, phường V H, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/9/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Phạm Thị Phương Tr trình bày: Bà Tr và ông Q tự nguyện quen nhau, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2012, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ L, huyện C T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/03/2013.

Lý do bà Tr yêu cầu xin ly hôn: Bà Tr cho rằng, do quá trình chung sống tính tình đôi bên không hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng ý kiến, trong cách cư xử, sinh hoạt thường ngày; do ông Q không lo làm ăn, ham mê cờ bạc, cá độ bóng đá, sống thiếu trách nhiệm với vợ, con; mọi việc trong gia đình từ về vấn đề kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái đều để một mình bà Tr gách vác, tự lo liệu; vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẽ với nhau trong cuộc sống. Cả hai đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng không mang lại kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm, cả hai đã tự ly thân từ khoảng năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Tr làm đơn xin ly hôn với ông Q.

Về con chung: Bà Tr xác nhận có 02 người con chung tên Dương Tường Yến V, sinh ngày 03/8/2013 và Dương Trường Anh T, sinh ngày 18/6/2018.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Tr yêu cầu:

Về hôn nhân: Bà Tr yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Bà Tr yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Dương Tường Yến V, sinh ngày 03/8/2013, Dương Trường Anh T, sinh ngày 18/6/2018. Bà Tr không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Dương Trường Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy báo phiên toà hợp lệ, nhưng bị đơn ông Q vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt bị đơn ông Dương Trường Q.

Nhận định về quan hệ hôn nhân: Bà Tr và ông Q tự nguyện quen nhau, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2012, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ L, huyện C T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/03/2013. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà Tr và ông Q được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Tr, Hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng bà Tr và ông Q không còn thương yêu, Q trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng mái ấm gia đình bền vững và hạnh phúc; xuất phát từ việc tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng ý kiến vợ chồng không còn tin tưởng, thông cảm, quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống, thường hay cự cải, xúc phạm nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục để hòa giải hôn nhân và gia đình nhưng ông Q cố tình lánh mặt không đến Tòa án, điều đó cho thấy ông Q cũng không có thiện chí và mong muốn trong việc hàn gắn lại tình cảm với bà Tr. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Tr và ông Q đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tr được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Dương Tường Yến V, sinh ngày 03/8/2013 và Dương Trường Anh T, sinh ngày 18/6/2018. Tại bản trình bày nguyện vọng ngày 08/01/2024, người con tên Dương Tường Yến V thể hiện nguyện vọng muốn được sống với Mẹ là bà Tr.

Xét thấy, quá trình trông nom, nuôi dưỡng các con chung bà Tr đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người mẹ đối với con; đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của những người con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống, sự phát triển, quyền lợi mọi mặt, cũng như tôn trọng nguyện vọng của người con chung. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Giao 02 người con chung tên Dương Tường Yến V và Dương Trường Anh T cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Do bà Tr không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Q vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Trường hợp, ông Q có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tr phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Phương Tr và ông Dương Trường Q.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Dương Tường Yến V, sinh ngày 03/8/2013 và Dương Trường Anh T, sinh ngày 18/6/2018 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Tr không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Ông Q được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tr xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, ông Q có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: Bà Tr phải nộp 300.000 đồng. Bà Tr đã tạm nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002784, ngày 20/10/2023 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R G, nên bà Tr được khấu trừ.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

Cỡ chữ