vanban.org

Bản án 06/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thủy N đối với anh Nguyễn Lâm H. Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thủy N và anh Nguyễn Lâm H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02-06-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Đặng Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thúy Hảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 06 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thủy N; địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Bị đơn: Anh Nguyễn Lâm H; địa chỉ thường trú: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi làm việc: Đội quản lý và sử dụng động vật nghiệp vụ, phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Thủy N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thủy N và anh Nguyễn Lâm H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2016 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 anh H có mối quan hệ bất chính với người khác. Mặc dù chị đã khuyên nhủ anh H chấm dứt hành vi ngoại tình nhưng anh H không thay đổi mà còn gây gổ, chửi bới, đánh đập chị đến mức phải nhập viện. Nay chị N thấy quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là Nguyễn Lâm G, sinh ngày 04-03-2017 và Nguyễn Lâm Gia U, sinh ngày 11-08-2021. Chị N yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

Về tài sản, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Lâm H đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không có mặt để làm việc nên không có lời khai lưu tại hồ sơ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt tại Tòa án để tham gia các buổi làm việc, phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án là vi phạm quy định tại khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 51, 56, 57 và 81 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thủy N; chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thủy N và anh Nguyễn Lâm H; giao con chung là Nguyễn Lâm G, sinh ngày 04-03-2017 và Nguyễn Lâm Gia U, sinh ngày 11-08-2021 cho chị Hồ Thị Thủy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản, nợ chung chị N không yêu cầu nên đề nghị không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Hồ Thị Thủy N khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn anh Nguyễn Lâm H trú tại phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn anh Nguyễn Lâm H đã được triệu tập, thông báo hòa giải hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự thực hiện thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thủy N và anh Nguyễn Lâm H tự nguyện chung sống và kết hôn ngày 05-05-2016 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (giấy chứng nhận kết hôn số 54/2016 cấp ngày 05-05-2016) nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp.

Chị N và anh H chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không chung thủy, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị N đã nhiều lần nhắc nhở, khuyên nhủ anh H chấm dứt hành vi ngoại tình nhưng anh H không chấm dứt. Năm 2021 ông Phạm Tấn T phát hiện anh H có hành vi quan hệ bất chính với vợ của ông tên là Lê Thị Thu H (quan hệ tình dục dẫn đến có thai và phải phá bỏ) nên làm đơn tố cáo gửi Cơ quan nơi anh H làm việc.

Tại bản kết luận số 680/KL-PK02 ngày 03-12-2021 của Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Đắk Nông thể hiện “Việc ông Phạm Tấn T tố cáo Trung úy Nguyễn Lâm H, cán bộ công tác tại Đội quản lý và sử dụng động vật nghiệp vụ, phòng PK02 Công an tỉnh Đắk Nông, từ năm 2020 có hành vi quan hệ bất chính với vợ của ông Trung có tên Lê Thị Thu H (quan hệ tình dục dẫn đến có thai và phải phá bỏ) là tố cáo đúng”. Bản kết luận còn thể hiện: “Hành vi của Trung Úy Nguyễn Lâm H đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 14 phụ lục III Thông tư 49/2029/TT-BCA ngày 15/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc xử lý kỷ luật cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân” và đề nghị xử lý kỷ luật bằng hình thức Giáng cấp bậc hàm.

Ngoài ra, tài liệu thu thập tại Công an phường N, thành phố G thể hiện: Ngày 20-4-4022 chị N có đơn tố cáo anh Nguyễn Lâm H có hành vi đánh đập chị. Biên bản xem xét dấu vết trên cơ thể chị N ngày 20-4-2022 ghi nhận có vết sưng đỏ quanh mắt, trên mu bàn tay trái, trên đình đầu. Chị N khai những vết thương này là do anh H đánh. Tại Thông báo số 79/TB-CAP ngày 27-12-2022 của Công an phường N thể hiện: “Do bà N không đề nghị xử lý hành vi của ông Nguyễn Lâm H mà chỉ yêu cầu cơ quan Công an làm việc để răn đe và buộc ông H viết cam kết không tái phạm nên ngày 29-4-2022 Công an phường N đã làm việc với ông H yêu cầu ông H viết bản tự khai và viết bản cam kết không tái phạm hành vi đánh bà N”.

Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung gồm Nguyễn Lâm G, sinh ngày 04-03-2017 và Nguyễn Lâm Gia U, sinh ngày 11-08-2021. Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung cho đến khi đủ 18 tuổi.

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:

1....

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Tại thời điểm giải quyết vụ án, chị N và anh H không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con. Con chung là Nguyễn Lâm G dưới 07 tuổi, con chung là Nguyễn Lâm Gia U đang dưới 36 tháng tuổi, các con đều được chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, đưa đón đi học và phát triển bình thường; chị N có chỗ ở và việc làm ổn định.

Đối với anh H, có hành vi đánh đập chị N, có lối sống ngoại tình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình người khác, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có mặt tại Tòa án để trình bày nguyện vọng về việc nuôi con.

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi toàn diện của con chung, cần cho các cháu có môi trường sống lành mạnh, được chăm sóc toàn diện, phát triển tốt về cả thể chất và tinh thần, đồng thời nhằm tuân thủ quy định và nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là ưu tiên bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trẻ em nên cần chấp nhận yêu cầu được nuôi 02 con chung của chị N, giao cháu Nguyễn Lâm G, sinh ngày 04-03-2017 và Nguyễn Lâm Gia U, sinh ngày 11-08-2021 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị N phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thủy N đối với anh Nguyễn Lâm H.

Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thủy N và anh Nguyễn Lâm H.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Lâm G, sinh ngày 04-03-2017 và Nguyễn Lâm Gia U, sinh ngày 11-08-2021 cho chị Hồ Thị Thủy N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi.

Anh Nguyễn Lâm H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

2. Về án phí: Chị Hồ Thị Thủy N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006519 ngày 08-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ