- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ H đối với ông Lee J về việc "tranh chấp ly hôn".
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-02-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Đức Thành
Bà Trương Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2022/TLST-HNGĐ, ngày 24/10/2022 về việc "tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1985; địa chỉ: số 293/11A đường N, tổ 5, khu phố 9, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lee J, sinh năm 1965; địa chỉ: số 9, lộ T, khóm 009, thôn H, xã T, huyện B, Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/9/2022, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H trình bày:
Bà H và ông Lee J tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Sở Tư pháp tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 766/2015 ngày 11/8/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng quay trở về Đài Loan để sinh sống, tiếp tục công việc. Bà H sống ở Đài Loan một thời gian sau đó quay về V, từ đó bà H không gặp ông Lee J. Do khoảng cách địa lý nên bà H và ông Lee J ít liên lạc, trò chuyện cùng nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm hay cãi vã nhau. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H làm đơn khởi kiện ly hôn ông Lee J.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung thì giữa bà H và ông Lee J không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho ông Lee J các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/09/2022 của bà Trần Thị Mỹ H; Thông báo thụ lý vụ án số 36/TB-TLVA, ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Trích lục kết hôn (bản sao) số 27/TLKH-BS ngày 20/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Đ, Việt Nam và Công văn số: 46/TA-HNGĐ, ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông Lee J vẫn không có ý kiến gửi Tòa án.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hôn nhân giữa bà H và ông Lee J là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng quay trở về Đài Loan để sinh sống, tiếp tục công việc. Bà H sống ở Đài Loan một thời gian sau đó quay về Việt Nam, từ đó bà H không gặp ông Lee J. Do khoảng cách địa lý nên bà H và ông Lee J ít liên lạc, trò chuyện cùng nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm hay cãi vã nhau. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Trần Thị Mỹ H và ông Lee J đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 766/2015 ngày 11/8/2015. Bà H hiện đang cư trú tại số 293/11A đường N, tổ 5, khu phố 9, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Lee J đang sống và làm việc số 9, lộ T, khóm 009, thôn H, xã T, huyện B, Đài Loan. Do đó, theo quy định tại các Điều: 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình và các Điều: 28, 37, 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Về sự có mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục Ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho ông Lee J các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/09/2022 của bà Trần Thị Mỹ H; Thông báo thụ lý vụ án số 36/TB-TLVA, ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Trích lục kết hôn (bản sao) số 27/TLKH-BS ngày 20/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Đ, Việt Nam và Công văn số: 46/TA-HNGĐ, ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ông Lee J vẫn vắng mặt. Bà Trần Thị Mỹ H có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều: 227, 228, 238, 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà H và ông Lee J tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Sở Tư pháp tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 766/2015 ngày 11/8/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng quay trở về Đài Loan để sinh sống, tiếp tục công việc. Bà H sống ở Đài Loan một thời gian sau đó quay về Việt Nam, từ đó bà H không gặp ông Lee J. Do khoảng cách địa lý nên bà H và ông Lee J ít liên lạc, trò chuyện cùng nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm hay cãi vã nhau. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H xác định không còn tình cảm với ông Lee J và có đơn khởi kiện ly hôn ông Lee J. Về phía ông Lee J, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho ông Lee J các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/09/2022 của bà Trần Thị Mỹ H; Thông báo thụ lý vụ án số 36/TB-TLVA, ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Trích lục kết hôn (bản sao) số 27/TLKH-BS ngày 20/5/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Đ, Việt Nam và Công văn số: 46/TA-HNGĐ, ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã gửi các văn bản nêu trên qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế cho ông Lee J và ông Lee J đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Lee J vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H. Xét, yêu cầu ly hôn của bà H thấy rằng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…” mục đích hôn nhân giữa bà H và ông Lee J không đạt được, vì quyền lợi chung của hai bên nên cần phải chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Lee J, phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà Trần Thị Mỹ H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp và chi phí dịch thuật: bà Trần Thị Mỹ H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 19, 51, 56, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các Điều: 28, 37, 40, 147, 153, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ H đối với ông Lee J về việc "tranh chấp ly hôn".
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn ông Lee J.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà Trần Thị Mỹ H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000256, ngày 05/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
3. Về chi phí ủy thác tư pháp thực tế và chi phí dịch thuật: bà Trần Thị Mỹ H phải chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp.
Bà Trần Thị Mỹ H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Lee J được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thị Mỹ Hƣơng |