- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A-Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 10-3-2023 V/v ly h«n, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Bà Đào Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A; nơi cư trú: Số 8/2/27/38 A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: AnhTrần Văn Đ; nơi cư trú: Số 8/2/27/38 A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân Anh trình bày:
Chị và anh Trần Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh N ngày 06/11/2009.
Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm đồng thời do anh Đ có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Khoảng 01 năm nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Trần Việt Q, sinh ngày 03/9/201K và Trần Việt Đ1, sinh ngày 07/5/201T. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Đ cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đ nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải anh Đ đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà, chị Vân A giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn anh Trần Văn Đ. Về việc nuôi con: Giao con chung là Trần Việt Q, sinh ngày 03/9/201K và Trần Việt Đ1, sinh ngày 07/5/201T cho chị Vân A nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Vân A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Trần Văn Đ cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh N ngày 06/11/2009. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Vân A và anh Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Khoảng 01 năm nay, anh chị sống ly hôn. không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Toà án đã tiến hành hoà giải 02 lần nhưng anh Đ đều vắng mặt thể hiện không thiện chí kết hợp với Toà án để hoà giải việc đoàn tụ gia đình.
Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Xét mâu thuẫn giữa chị Vân Anh và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A đối với anh Đ.
+ Về việc nuôi con:
Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Văn Đ có hai con chung là Trần Việt Q, sinh ngày 03/9/201K và Trần Việt Đ1, sinh ngày 07/5/201T. Ly hôn chị Vân A đề nghị được nuôi hai con đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy chị Vân A có công việc, thu nhập ổn định, đủ để đảm bảo cuộc sống ổn định về kinh tế và hai cháu đều có nguyện vọng được ở với chị nên để chị Vân A nuôi con sẽ đảm bảo quyền lợi của con. Do vậy, cần áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao hai con chung Trần Việt Q và Trần Việt Đ1 cho chị Vân A nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
+ Về việc chia tài sản:
Chị Nguyễn Thị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Văn Đ.
- Về việc nuôi con: Giao con chung Trần Việt Q, sinh ngày 03/9/2010 và Trần Việt Đ1, sinh ngày 07/5/2014 cho chị Nguyễn Thị Vân A trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Vân A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Vân A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006759 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Vân A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị Vân A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - UBND thị trấn C, huyện T, tỉnh N (ĐKKH ngày 06/11/2009); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hƣơng |