- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2023/HNGĐ-ST Ngày 17 - 02 - 2023 (V/v: Tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Đình Thanh
2. ông Trần Lê Anh Đức
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:
Không tham gia.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình” thụ lý số: 586/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2023/QĐST - DS ngày 16 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST - DS ngày 06/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị G - sinh năm 1996. (Có mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Vương Văn L - sinh năm 1992.
Địa chỉ: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Hồ Thị G trình bày: Chị và anh Vương Văn L kết hôn vào ngày 19/02/2016 tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm về việc nuôi dạy con chung; hai bên không có sự tôn trọng và thương yêu nhau khiến tình cảm bị rạn nứt. Sau khi mâu thuẫn xảy ra thì vợ chồng đã được gia đình và ban xóm đã hòa giải nhiều lần, tuy nhiên vẫn không được cải thiện. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 6/2022 cho đến nay không còn quan tâm, trách nhiệm với nhau nữa. Chị G xác định tình cảm đối với anh L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn Anh L.
- Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung Vương Hữu P, sinh ngày 22/01/2017. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn chị G có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu anh L cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn quá trình giải quyết đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn đều vắng mặt. Song qua các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp về quan hệ hôn nhân, con chung đúng như nguyên đơn trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh L có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được quy định tại điểm a khoản1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành. Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn anh L vắng mặt lần thứ hai, do đó căn cứ vào Điều 227 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
2. Về nội dung:
Về hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị G, anh L là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu xin ly hôn nguyên đơn cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng những năm gần đây không được hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt và thực sự căng thẳng, hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau nữa. Qua xem xét thực tế thấy rằng nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nguyên đơn trình bày, vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị G.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị G có nguyện vọng được nuôi con chung đề nghị giữ nguyên hiện trạng vì hiện nay con đang ở với chị ổn định mặt khác chị G ngoài nghề làm nông còn có nghề phụ thu nhập từ 5.000.000 đồng - 7.000.000 đồng/tháng, bên cạnh chị còn có người thân gia đình bên ngoại hỗ trợ cho chị và con nên chị không yêu cầu cấp dưỡng.
Xét nguyện vọng được nuôi con chung của chị G là chính đáng thể hiện quyền và nghĩa vụ của chị G hơn nữa từ khi vợ chồng mâu thuẫn con chung ở với chị, anh L thường xuyên đi làm ăn xa không có điều kiện thời gian chăm sóc con chung bằng chị G. Để đảm bảo mọi mặt về sinh hoạt cũng như học tập tránh xáo trộn cuộc sống cần giữ nguyên hiện trạng về con chung, tiếp tục giao con chung là Vương Hữu P, sinh ngày 22/01/2017 cho chị G nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
*Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự chưa yêu cầu nên chưa xem xét.
Về tài sản: Chị G không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị Hồ Thị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 28; khoản 4 điều 207; khoản 1 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56, 81, 82, 83; 84 của luật Hôn Nhân và Gia đình;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị G.
- Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị G được ly hôn anh Vương Văn L.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung Vương Hữu P, sinh ngày 22/01/2017 cho chị Hồ Thị G trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
*Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự chưa yêu cầu.
Anh Vương Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Án phí: Căn cứ vào khoản 4, điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điều 27 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc chị Hồ Thị G phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, án phí của chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000508 ngày 15/12/2022. Chị G đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại khoản điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - VKS H.Yên Thành - Các đương sự - THA DS H.Yên Thành - TAND tỉnh - UBND xã (ĐKKH) - Lưu hs, VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Nhung |